Phát triển kinh tế văn hóa: Cần cơ chế hấp dẫn để thu hút đầu tư tư nhân
Sáng nay (22/4), Quốc hội đã thảo luận ở hội trường về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam. Phiên thảo luận không chỉ dừng lại ở các chính sách bảo tồn truyền thống, nghị trường đã 'nóng' lên bởi những đề xuất mang đậm tư duy kinh tế: Từ việc thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm văn hóa, ưu đãi thuế doanh nghiệp, cho đến các cơ chế tài chính nhằm 'trải thảm đỏ' đưa cổ vật hồi hương và kích cầu tiêu dùng văn hóa. Tất cả hướng tới mục tiêu chuyển hóa văn hóa thành một ngành công nghiệp đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế.

Cơ chế chấp nhận rủi ro và bài toán kiểm soát Quỹ đầu tư mạo hiểm
Một trong những bước tiến vượt bậc về tư duy quản lý được đưa ra thảo luận là việc cam kết dành tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước cho văn hóa và thí điểm thành lập Quỹ văn hóa nghệ thuật theo mô hình hợp tác công tư. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà (Hà Nội) đánh giá đây là một "quỹ đầu tư mạo hiểm" hoạt động theo nguyên tắc thị trường, giúp giải quyết triệt để điểm nghẽn thiếu hụt vốn cho các doanh nghiệp khởi nghiệp và các dự án sáng tạo đột phá mà ngân sách nhà nước thông thường không thể cấp. Tuy nhiên, đại biểu cũng cảnh báo cần có hành lang pháp lý an toàn và tiêu chí đánh giá rủi ro để bảo vệ các hội đồng thẩm định quỹ khỏi rào cản hành chính.
Đồng tình với quan điểm này, đại biểu Nguyễn Phương Thủy (Hà Nội) chỉ ra "nút thắt" lớn nhất hiện nay là chúng ta đang áp dụng logic quản lý tài chính công truyền thống vào lĩnh vực văn hóa. Đại biểu đề nghị dự thảo phải quy định rõ việc nghiệm thu sản phẩm sáng tạo bằng ngân sách phải thông qua hội đồng chuyên môn độc lập, đồng thời bổ sung nguyên tắc không yêu cầu hoàn lại các chi phí hợp lý nếu dự án không đạt hiệu quả kinh tế nhưng vẫn bảo đảm chất lượng nghệ thuật.
Tuy nhiên, cơ chế lập quỹ mới cũng vấp phải phản biện sắc sảo từ góc độ quản lý tài chính quốc gia. Đại biểu Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp) nhắc lại việc Quốc hội khóa XIV từng có chủ trương hạn chế thành lập các quỹ tài chính ngoài ngân sách. Do Quỹ này có sử dụng nguồn đầu tư từ ngân sách, đại biểu đề nghị phải định nghĩa rất rõ nguyên tắc chi, chế độ giám sát chặt chẽ của Quốc hội để tránh tình trạng "quỹ càng ngày càng nhiều hơn".
Dùng công cụ thuế và thị trường để đánh thức "mỏ vàng" di sản
Xác định văn hóa ngang hàng với kinh tế, các đại biểu nhấn mạnh cần thiết kế các công cụ thuế đủ hấp dẫn để thu hút đầu tư tư nhân. Đại biểu Thạch Phước Bình (Vĩnh Long) đánh giá việc áp dụng thuế giá trị gia tăng 5% đối với một số hoạt động văn hóa là tín hiệu tích cực tác động trực tiếp đến chi phí dịch vụ. Quyết liệt hơn, đại biểu Trần Thị Vân (Bắc Ninh) kiến nghị áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp ở mức cạnh tranh cao hơn, miễn giảm dài hạn và cho phép khấu trừ cao đối với chi phí sáng tạo điện ảnh, game, âm nhạc số. Đại biểu dẫn chứng bộ phim hoạt hình "Wolfoo" đạt 3 tỷ lượt xem/tháng toàn cầu hay ngành game Việt Nam thu hàng trăm triệu USD/năm để khẳng định văn hóa truyền thống hoàn toàn có thể trở thành chất liệu sáng tạo đem lại giá trị kinh tế khổng lồ trong thời đại số.
Bên cạnh đó, chính sách tài chính để "hồi hương" di sản quốc gia cũng được mổ xẻ chi tiết. Đại biểu Quốc hội, Thượng tọa Thích Đức Thiện (Điện Biên) hoan nghênh quy định miễn 100% thuế nhập khẩu, phí hải quan và thuế giá trị gia tăng cho việc đấu giá, đưa cổ vật quý hiếm về nước. Thượng tọa còn kiến nghị tiến xa hơn bằng cách cho phép khấu trừ thuế thu nhập đối với giá trị cổ vật hồi hương và có cơ chế nhà nước đồng tài trợ. Tuy nhiên, để chớp được các cơ hội mua cổ vật trên thị trường quốc tế, đại biểu Thạch Phước Bình lưu ý thủ tục hải quan và tài chính hiện nay vẫn nặng về "tiền kiểm", cần thiết kế cơ chế xử lý nhanh gọn và thiết lập quỹ dự phòng chuyên biệt để không bỏ lỡ cơ hội.
Nhằm công nghiệp hóa di sản, đại biểu Nguyễn Thị Sửu (Thừa Thiên Huế) yêu cầu phải có cơ chế mạnh về định giá và khai thác thương mại tài sản trí tuệ (IP), đồng thời phải có công cụ đo lường "tính Việt Nam" trong các tổ hợp sáng tạo văn hóa. Bà lấy ví dụ từ thực tiễn địa phương: Huế mạnh về chiều sâu văn hóa cung đình, trong khi Đồng Nai mạnh về năng lực triển khai, hạ tầng và thị trường, do đó chính sách cần đủ linh hoạt để các địa phương tận dụng lợi thế kinh tế hóa di sản.
Kích cầu tiêu dùng văn hóa và dòng vốn cho hạ tầng số
Không chỉ bàn về sản xuất, các đại biểu còn hiến kế các giải pháp kích cầu tiêu dùng văn hóa. Đề xuất lấy ngày 24/11 làm "Ngày văn hóa Việt Nam" và cho người lao động nghỉ hưởng nguyên lương nhận được sự tán đồng lớn. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà và các đại biểu khác nhấn mạnh đây sẽ là "điểm rơi" để kích cầu du lịch nội địa và tiêu dùng văn hóa, đề nghị miễn phí toàn bộ dịch vụ tham quan công lập và khuyến khích khối tư nhân cùng tung các chiến dịch giảm giá.
Tuy nhiên, để tạo ra nền tảng phân phối sản phẩm văn hóa, điểm nghẽn về hạ tầng số cần dòng vốn tập trung. Đại biểu Trần Văn Khải (Ninh Bình) cho rằng tỷ lệ chi ngân sách cho chuyển đổi số ngành văn hóa đang rất khiêm tốn, dẫn đến tình trạng cơ sở dữ liệu phân tán, thiếu phần mềm tương thích. Ông đề nghị luật hóa ngay trong nghị quyết mốc hoàn thành số hóa 100% di sản văn hóa quốc gia vào năm 2026, đồng thời yêu cầu phân bổ rõ trong kế hoạch đầu tư công trung hạn nguồn vốn cho trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và an ninh văn hóa số.











