Phát triển làng nghề theo hướng xanh, bền vững

Với 287 làng nghề được công nhận, 18.130 cơ sở sản xuất, kinh doanh và gần 50.000 lao động thường xuyên, khu vực làng nghề giữ vai trò quan trọng trong kinh tế nông thôn Thái Nguyên.

Song, cùng với sự phát triển của sản xuất là áp lực ngày càng lớn đối với môi trường, nhất là nước thải, chất thải rắn, bụi và mùi. Giải quyết bài toán này là yêu cầu quan trọng để các làng nghề duy trì sinh kế, nâng cao giá trị sản phẩm và phát triển theo hướng bền vững.

Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường thăm làng nghề sản xuất chè ở xã Phú Lạc. Ảnh: T.L

Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường thăm làng nghề sản xuất chè ở xã Phú Lạc. Ảnh: T.L

Kiểm soát nguồn thải nhỏ, phân tán

Thái Nguyên hiện có 287 làng nghề được công nhận, gồm 184 làng nghề truyền thống và 103 làng có nghề. Trong số này, 273 làng thuộc nhóm chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản; 11 làng thuộc nhóm sản xuất đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt, may, sợi, thêu ren, đan lát, cơ khí nhỏ và 3 làng sản xuất, kinh doanh sinh vật cảnh.

Sự phát triển của làng nghề góp phần tạo việc làm, duy trì nghề truyền thống và nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn. Tính bình quân, mỗi cơ sở tạo việc làm trực tiếp cho khoảng 2,7 lao động. Con số này phản ánh khá rõ đặc điểm của sản xuất làng nghề hiện nay.

Phần lớn cơ sở có quy mô nhỏ, hoạt động phân tán và gắn với hộ gia đình, khu dân cư. Điều này tạo việc làm thuận lợi, tận dụng được nguồn lao động tại chỗ, song lại gây khó khăn cho việc thu gom, phân loại và xử lý chất thải tập trung.

Sản xuất gắn với bảo vệ môi trường là điều kiện để các làng nghề duy trì và phát triển nghề truyền thống. Trong ảnh: Hoạt động sản xuất miến tại HTX miến Việt Cường, xã Đồng Hỷ.

Một điểm đáng ghi nhận là 100% số làng nghề ở Thái Nguyên đã được cấp có thẩm quyền xác nhận hồ sơ môi trường theo quy định. Các hộ dân chủ động bố trí kinh phí thu gom, xử lý chất thải sinh hoạt và chất thải sản xuất thông thường. Chính quyền cấp xã tổ chức thu gom, vận chuyển vỏ bao bì, chai lọ hóa chất bảo vệ thực vật theo quy định.

Tuy nhiên, có hồ sơ môi trường chưa đồng nghĩa với việc mọi nguồn thải đã được xử lý triệt để. Khoảng cách giữa yêu cầu trên giấy tờ và hiệu quả bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất vẫn là vấn đề phải được quan tâm. Điều này đặc biệt rõ ở những làng nghề có nhiều hộ sản xuất xen kẽ trong khu dân cư.

Nước thải sản xuất đang là một trong những vấn đề nổi bật. Do phần lớn cơ sở có quy mô nhỏ, lượng nước thải phát sinh tại từng hộ không lớn và phân tán, việc đầu tư hệ thống thu gom, xử lý tập trung gặp nhiều khó khăn.

Phần lớn cơ sở phải xử lý tại chỗ bằng các công trình phù hợp với quy mô sản xuất. Giải pháp này phù hợp với điều kiện trước mắt, song hiệu quả phụ thuộc nhiều vào chất lượng công trình, công suất xử lý và cách thức vận hành.

Khi công trình xuống cấp, vận hành không đúng kỹ thuật hoặc không còn đáp ứng quy mô sản xuất, nước thải có nguy cơ chảy vào ao hồ, kênh mương, đất sản xuất và nguồn nước mặt.

Làng nghề tương nếp Úc Kỳ (xã Phú Bình) phát triển nghề truyền thống gắn với sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đặc trưng của địa phương.

Làng nghề tương nếp Úc Kỳ (xã Phú Bình) phát triển nghề truyền thống gắn với sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đặc trưng của địa phương.

Tại Thái Nguyên, nguy cơ ô nhiễm môi trường được ghi nhận ở nhiều loại hình làng nghề. nước thải từ các làng nghề sản xuất miến, mì, bánh chưng, đậu phụ có thể tác động đến nguồn nước.

Nghề mộc, mỹ nghệ phát sinh bụi, tiếng ồn; các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng có nguy cơ phát sinh khói bụi. Đối với các làng nghề chế biến nông sản, thực phẩm, nước thải thường chứa hàm lượng chất hữu cơ cao.

Nếu không được xử lý đạt yêu cầu trước khi xả ra môi trường, nguồn nước tiếp nhận có thể suy giảm chất lượng. Một số loại hình sản xuất khác lại phát sinh những nguồn ô nhiễm đặc thù như bụi, khí thải, mùi, tiếng ồn, dung môi hoặc hóa chất. Điều đó đặt ra yêu cầu chuyển trọng tâm quản lý từ việc hoàn thiện hồ sơ môi trường sang kiểm soát hiệu quả thực tế của các nguồn thải.

Mỗi loại hình sản xuất phải được nhận diện đúng nguy cơ để có giải pháp phù hợp, thay vì áp dụng chung một phương thức quản lý cho toàn bộ hệ thống làng nghề.

Kinh nghiệm tại một số làng nghề trong tỉnh cho thấy, khi người dân thay đổi phương thức sản xuất và quan tâm đúng mức đến xử lý chất thải, sức ép môi trường có thể giảm rõ rệt.

Tại Làng nghề mộc mỹ nghệ Phương Độ (xã Phú Bình), hoạt động sản xuất trước đây diễn ra xen kẽ trong khu dân cư, khiến bụi gỗ, tiếng ồn và mùi sơn phát tán. Ban Quản lý làng nghề đã vận động các hộ xây dựng nhà xưởng, lắp lưới chắn bụi, phòng phun sơn, hệ thống thoát mùi cao khoảng 10-15m, đồng thời trang bị thiết bị thu gom mùn cưa, mạt gỗ. Theo địa phương, các giải pháp này giúp tình trạng ô nhiễm giảm đáng kể.

Tại Làng nghề miến Việt Cường (xã Đồng Hỷ), Hợp tác xã (HTX) đã đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải với 3 hồ lắng. Việc nhập bột nguyên liệu thay cho công đoạn trực tiếp rửa, nghiền củ dong riềng cũng góp phần giảm lượng chất thải phát sinh.

Ông Nguyễn Văn Ba, Giám đốc HTX Miến Việt Cường, cho biết: Đơn vị yêu cầu các hộ liên kết thực hiện nghiêm các yêu cầu về vệ sinh và môi trường. Cách làm này cho thấy vai trò của liên kết sản xuất trong việc kiểm soát đồng bộ nguyên liệu, quy trình sản xuất và chất thải. Khi các hộ cùng tuân thủ một quy trình, việc kiểm tra và xử lý các vấn đề môi trường cũng thuận lợi hơn.

Đầu tư hạ tầng, nâng trách nhiệm cộng đồng

Những kết quả bước đầu cho thấy, bảo vệ môi trường làng nghề cần được thực hiện đồng bộ hơn, với sự tham gia của cơ quan quản lý, chính quyền cơ sở và từng cơ sở sản xuất.

Ông Lê Hải Bằng, Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh, cho rằng: Các địa phương cần thường xuyên kiểm tra việc thực hiện phương án bảo vệ môi trường làng nghề; hướng dẫn biện pháp xử lý chất thải phù hợp với từng lĩnh vực sản xuất; bố trí kinh phí thu gom, xử lý vỏ bao gói thuốc bảo vệ thực vật và nâng cao ý thức phân loại rác tại nguồn.

Tiêu chí môi trường cũng cần được quan tâm trong quá trình đánh giá xây dựng nông thôn mới. Đây là yêu cầu có ý nghĩa quan trọng khi ngành Nông nghiệp và Môi trường tỉnh xác định trong năm 2026 sẽ tăng cường kiểm soát ô nhiễm, quản lý chất thải rắn, nước thải, khí thải; đồng thời tăng cường kiểm tra việc chấp hành pháp luật về môi trường tại các làng nghề và cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm.

Làng nghề mộc mỹ nghệ Xuân Phương, xã Phú Bình, chú trọng thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường trong quá trình sản xuất.

Làng nghề mộc mỹ nghệ Xuân Phương, xã Phú Bình, chú trọng thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường trong quá trình sản xuất.

Để công tác quản lý đi vào thực chất, trước hết cần xác định rõ những làng nghề, khu vực và loại hình sản xuất có nguy cơ cao để ưu tiên nguồn lực. Các làng nghề chế biến nông sản, thực phẩm nên tập trung kiểm soát nước thải và chất thải hữu cơ. Làng nghề mộc cần chú trọng bụi, mạt gỗ, tiếng ồn và dung môi sơn.

Những nghề có sử dụng hóa chất phải kiểm soát chặt việc lưu giữ, sử dụng hóa chất, thu gom bao bì và xử lý nước thải phát sinh. Tại những khu vực có mật độ cơ sở sản xuất cao, việc nghiên cứu hình thành các cụm sản xuất làng nghề gắn với hạ tầng xử lý môi trường tập trung là hướng đi đáng xem xét.

Mô hình này có thể khắc phục một hạn chế phổ biến của sản xuất hộ gia đình, đó là mỗi cơ sở phải tự đầu tư một công trình xử lý nhỏ trong khi năng lực kỹ thuật và điều kiện tài chính giữa các hộ không giống nhau.

Cùng với đầu tư hạ tầng, việc hướng dẫn kỹ thuật và hỗ trợ chuyển đổi công nghệ cũng có vai trò quan trọng. Các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ thường khó tiếp cận những giải pháp xử lý hiện đại do chi phí đầu tư cao. Nếu có cơ chế hỗ trợ phù hợp, người dân sẽ có thêm điều kiện cải tiến dây chuyền, tiết kiệm nguyên liệu, giảm lượng nước sử dụng và hạn chế chất thải ngay trong quá trình sản xuất.

Quản lý môi trường làng nghề cũng không thể tách khỏi trách nhiệm của cộng đồng. Người sản xuất đồng thời là người sinh sống trong khu dân cư, sử dụng nguồn nước và hưởng lợi trực tiếp từ môi trường sạch. Vì vậy, ý thức của từng hộ có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả của các giải pháp quản lý.

Làng nghề miến dong xã Côn Minh duy trì nghề truyền thống, tạo việc làm và thu nhập cho người dân địa phương.

Làng nghề miến dong xã Côn Minh duy trì nghề truyền thống, tạo việc làm và thu nhập cho người dân địa phương.

Chính quyền cấp xã có thể lập danh sách các nhóm cơ sở, xác định nguồn thải chính, tổ chức kiểm tra định kỳ và kịp thời nhắc nhở, xử lý những trường hợp vi phạm. Các tổ chức, đoàn thể ở cơ sở có thể tham gia giám sát việc thu gom rác, bao bì hóa chất, nước thải và vệ sinh đường làng, kênh mương.

Việc biểu dương những cơ sở thực hiện tốt cũng tạo động lực để người dân chủ động cải thiện điều kiện sản xuất.

Về lâu dài, yêu cầu bảo vệ môi trường nên được gắn chặt với quá trình nâng cao chất lượng sản phẩm làng nghề. Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến nguồn gốc nguyên liệu, quy trình sản xuất và các yếu tố liên quan đến môi trường. Đây cũng là điều kiện để sản phẩm làng nghề nâng cao khả năng cạnh tranh, nhất là với những sản phẩm OCOP và sản phẩm truyền thống có tiềm năng mở rộng thị trường.

Thái Nguyên có nhiều lợi thế để phát triển nông sản, sản phẩm OCOP và nghề truyền thống, với hệ thống làng nghề ngày càng mở rộng, tạo việc làm và thu nhập cho người dân nông thôn.

Cùng với phát triển sản xuất, bảo vệ môi trường cần được đặt vào vị trí tương xứng, bởi chất lượng nguồn nước, không khí, đất đai và cảnh quan khu dân cư là những yếu tố trực tiếp phản ánh chất lượng của quá trình phát triển.

Hồ sơ môi trường chỉ là yêu cầu ban đầu, hiệu quả thực tế phụ thuộc vào việc kiểm soát nguồn thải, đầu tư công nghệ phù hợp, tổ chức thu gom, xử lý chất thải và chấp hành quy định của từng cơ sở.

Khi cơ quan quản lý, chính quyền cơ sở, hợp tác xã và người dân cùng thực hiện trách nhiệm, việc giữ nghề sẽ gắn với gìn giữ môi trường sống và nâng cao chất lượng sản phẩm. Đó là nền tảng để các làng nghề Thái Nguyên duy trì giá trị truyền thống, nâng sức cạnh tranh của sản phẩm và hướng tới một nền sản xuất thân thiện với môi trường.

Ngọc Quang

Nguồn Thái Nguyên: https://baothainguyen.vn/phat-trien-lang-nghe-theo-huong-xanh-ben-vung