Phát triển metro và bài toán nhân lực cho giao thông, đô thị thông minh
Theo các chuyên gia, trên thế giới, hệ thống metro không còn được nhìn nhận đơn thuần như một phương tiện giao thông công cộng, mà đã trở thành trụ cột của hệ sinh thái đô thị thông minh.

Quang cảnh hội thảo. Ảnh: Thanh Vũ - TTXVN
Trong bối cảnh các đô thị lớn tại Việt Nam bước vào giai đoạn đầu tư hạ tầng quy mô lớn, đặc biệt là hệ thống đường sắt đô thị (metro), bài toán không chỉ nằm ở vốn và công nghệ. Thách thức quan trọng hơn là nguồn nhân lực đủ năng lực làm chủ, vận hành và phát triển hệ sinh thái giao thông thông minh – nền tảng cho kinh tế đô thị hiện đại.
Đây cũng là nội dung trọng tâm được các nhà quản lý, doanh nghiệp, trường học đặc biệt quan tâm thảo luận tại hội thảo “Từ Đường sắt thông minh đến Giao thông thông minh và Thành phố thông minh: Nhu cầu nguồn nhân lực” do Sở Xây dựng TP. Hồ Chí Minh, Trường Đại học Việt Đức (VGU), Ban Quản lý Đường sắt đô thị TP. Hồ Chí Minh (MAUR), Công ty Quản lý vận hành Đường sắt đô thị (HURC1) phối hợp tổ chức ngày 13/3.
Động lực cho kinh tế đô thị
Theo các chuyên gia, trên thế giới, hệ thống metro không còn được nhìn nhận đơn thuần như một phương tiện giao thông công cộng, mà đã trở thành trụ cột của hệ sinh thái đô thị thông minh.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ René Thiele, Hiệu trưởng Trường Đại học Việt Đức cho biết, nhiều thành phố lớn đã phát triển theo mô hình TOD (Transit-Oriented Development); trong đó giao thông công cộng được đặt ở trung tâm của quy hoạch đô thị. Các khu dân cư, thương mại và dịch vụ được phát triển xung quanh các ga metro, giúp tối ưu sử dụng đất, giảm phụ thuộc vào phương tiện cá nhân và hình thành các trung tâm kinh tế mới. Song song đó, các nền tảng công nghệ như Mobility as a Service (MaaS) cho phép tích hợp nhiều loại hình di chuyển trong cùng một hệ sinh thái số.
“Metro ngày nay không chỉ là hạ tầng giao thông mà là nền tảng cho toàn bộ hệ sinh thái đô thị thông minh”, ông René Thiele nhận định.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ René Thiele, Hiệu trưởng yrường Đại học Việt Đức phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Thanh Vũ - TTXVN
Trong bối cảnh đó, Việt Nam đang bước vào giai đoạn đầu tư mạnh cho hệ thống đường sắt đô thị. Theo các quy hoạch dài hạn, TP. Hồ Chí Minh dự kiến phát triển khoảng 1.012 km đường sắt đô thị đến năm 2045 với tổng vốn đầu tư hơn 103 tỷ USD. Hà Nội cũng đặt mục tiêu xây dựng hơn 600 km metro với nhu cầu vốn trên 55 tỷ USD. Những con số này cho thấy giao thông công cộng đang trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của các đô thị lớn trong những thập niên tới.
Ông Nguyễn Duy Thạch, Giám đốc Ban Chuẩn bị đầu tư – Ban Quản lý Đường sắt đô thị TP. Hồ Chí Minh cho biết: Quy hoạch mạng lưới metro của Thành phố không chỉ giới hạn trong phạm vi nội đô trung tâm mà còn mở rộng kết nối với khu vực Bình Dương, Bà Rịa Vũng Tàu và hướng đến các địa phương trong vùng kinh tế Đông Nam Bộ.
Theo đó, mạng lưới mới dự kiến có tổng chiều dài hơn 1.000 km với 27 tuyến. Trong giai đoạn ưu tiên đến năm 2030, thành phố sẽ tập trung khoảng 16,1 tỷ USD để triển khai 4 tuyến trọng điểm với tổng chiều dài hơn 167 km; trong đó, các tuyến trọng điểm gồm: Tuyến số 1 (Bình Dương): Nối Thành phố mới Bình Dương đến Ga Suối Tiên (dài 32,43 km); tuyến số 2: Trục Tham Lương – Bến Thành – Thủ Thiêm – Long Thành (dài 58,8 km); tuyến số 6 (giai đoạn 1): Kết nối Sân bay Tân Sơn Nhất đến Phú Hữu (dài 22 km); tuyến số 12: Tuyến đường sắt chiến lược từ Bến Thành đi Cần Giờ (dài 54 km).
“Đây sẽ là “xương sống” của mạng lưới giao thông công cộng, kết nối các cửa ngõ kinh tế quan trọng của vùng Đông Nam Bộ, đồng thời tạo động lực phát triển đô thị theo mô hình TOD (Transit-Oriented Development), ông Thạch nhấn mạnh.
Bên cạnh nguồn vốn đầu tư công, TP. Hồ Chí Minh cũng đang thúc đẩy mô hình đối tác công – tư (PPP) nhằm thu hút các tập đoàn lớn tham gia phát triển hạ tầng. Cách tiếp cận này không chỉ giúp tăng tốc tiến độ đầu tư mà còn góp phần hình thành hệ sinh thái kinh tế đô thị gắn với giao thông công cộng.
Ở góc độ công nghệ, ông Bernard Chow, Trưởng bộ phận Giải pháp Đường sắt Đô thị và Di động của ST Engineering (Singapore), cho rằng các hệ thống metro hiện đại ngày càng được vận hành dựa trên dữ liệu. Các công nghệ như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các nền tảng giám sát thông minh cho phép tối ưu luồng giao thông, dự báo nhu cầu hành khách và giảm chi phí bảo trì thông qua các hệ thống bảo trì dự đoán.
“Metro không chỉ là phương tiện vận tải mà còn là trung tâm dữ liệu của hệ sinh thái giao thông đô thị. Tuy nhiên, để triển khai các hệ thống như vậy, yếu tố quyết định không chỉ là công nghệ mà còn là đội ngũ nhân lực có khả năng làm chủ các nền tảng kỹ thuật số phức tạp”, ông Bernard Chow nói.

Ông Bernard Chow, Trưởng bộ phận Giải pháp Đường sắt Đô thị và Di động của ST Engineering (Singapore) phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Thanh Vũ - TTXVN
Gỡ nút thắt nhân lực
Theo ông Trần Võ Anh Minh, Phó Trưởng phòng Quản lý Đường sắt đô thị – Sở Xây dựng TP. Hồ Chí Minh, mô hình giao thông hiện nay của thành phố với sự phụ thuộc lớn vào phương tiện cá nhân đã đạt đến giới hạn. Việc phát triển metro vì vậy không chỉ là giải pháp hạ tầng mà còn là bước ngoặt trong quá trình tái cấu trúc đô thị theo hướng thông minh và bền vững. Trong tương lai, các tuyến metro sẽ được vận hành bằng nhiều công nghệ hiện đại như hệ thống điều khiển tàu tự động (CBTC), trung tâm điều hành tập trung và các nền tảng quản lý dữ liệu lớn.
Các hệ thống này cho phép tối ưu hóa lưu lượng hành khách, nâng cao mức độ an toàn và tích hợp nhiều phương thức giao thông khác nhau. TP. Hồ Chí Minh cũng đang hướng đến xây dựng hệ sinh thái giao thông tích hợp, trong đó người dân có thể sử dụng một phương thức thanh toán duy nhất cho nhiều loại hình di chuyển như metro, xe buýt hay xe đạp công cộng. Đây là mô hình tương tự các nền tảng Mobility as a Service đang được triển khai tại nhiều thành phố lớn trên thế giới. Tuy nhiên, để vận hành một hệ sinh thái giao thông như vậy, thành phố cần đội ngũ nhân lực có kiến thức liên ngành, từ kỹ thuật đường sắt, công nghệ thông tin, khoa học dữ liệu đến quản lý đô thị.
Cùng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Anh Tuấn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Giao thông Việt Đức cho đây chính là “nút thắt” lớn nhất trong quá trình phát triển hệ thống metro tại Việt Nam.
Theo ông Tuấn, Việt Nam hiện đang thiếu hụt nghiêm trọng các chuyên gia có khả năng làm chủ công nghệ đường sắt hiện đại cũng như các nền tảng dữ liệu thông minh. Đường sắt thông minh không chỉ cần kỹ sư cơ khí hay xây dựng, mà còn cần chuyên gia về trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và hệ thống điều khiển tích hợp.
Do vậy, đào tạo nhân lực phải đi trước một bước so với tiến độ triển khai dự án. Không thể đợi đến khi tàu chạy mới bắt đầu tìm người vận hành. Nếu không chuẩn bị từ sớm, khi hệ thống metro mở rộng nhanh, khoảng trống nhân lực sẽ trở thành rào cản lớn”, ông cảnh báo.
Từ góc nhìn doanh nghiệp công nghệ, ông Phan Thanh Sơn, Giám đốc chiến lược đường sắt FPT Công nghệ đường sắt cho rằng nguồn nhân lực trong lĩnh vực giao thông thông minh cần có tư duy liên ngành. Trong vòng 10–15 năm tới, khi mạng lưới metro tại Việt Nam phát triển mạnh, nhu cầu nhân lực trong lĩnh vực này sẽ tăng nhanh, từ kỹ sư thiết kế, chuyên gia quy hoạch đến đội ngũ vận hành và bảo trì hệ thống.
Ngoài nền tảng kỹ thuật truyền thống, lực lượng lao động trong tương lai cần làm chủ các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, an ninh mạng. Trong kỷ nguyên quản trị số, công nghệ không thay thế con người mà giúp tăng cường năng lực cho con người.
“Điều quan trọng là Việt Nam cần xây dựng chiến lược đào tạo để hình thành đội ngũ chuyên gia có khả năng làm chủ công nghệ, tránh phụ thuộc hoàn toàn vào các nhà cung cấp nước ngoài”, ông chia sẻ.
Trước nhu cầu nhân lực ngày càng lớn, các cơ sở đào tạo cũng bắt đầu điều chỉnh chương trình để đáp ứng xu hướng mới. Trường Đại học Việt Đức cũng cho biết, chương trình Cử nhân Kỹ thuật Giao thông Thông minh (Smart Mobility Engineering – SME) được tích hợp nhiều lĩnh vực như kỹ thuật giao thông vận tải, công nghệ phương tiện tự động, khoa học dữ liệu và quy hoạch đô thị đa phương thức nhằm đào tạo đội ngũ kỹ sư có khả năng thiết kế và vận hành hệ thống giao thông thông minh.
Tại hội thảo, các đại biểu kỳ vọng đây sự hợp tác giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các trường đại học sẽ đóng vai trò then chốt trong việc hình thành hệ sinh thái đào tạo – nghiên cứu – ứng dụng cho lĩnh vực giao thông thông minh. Đồng thời tin tưởng, khi nguồn nhân lực được chuẩn bị đầy đủ, các tuyến metro trong tương lai không chỉ giải quyết bài toán ùn tắc giao thông mà còn trở thành nền tảng cho quá trình phát triển đô thị thông minh, mở ra không gian tăng trưởng mới cho kinh tế đô thị Việt Nam.











