Phát triển ngành cơ khí giai đoạn 2026–2045: Cần cơ chế, chính sách đặc thù

Sau gần một thập kỷ thực hiện Quyết định số 319/QĐ-TTg, ngành cơ khí Việt Nam đã tăng trưởng tích cực cả về quy mô và năng lực. Tuy nhiên, khả năng làm chủ công nghệ lõi, hình thành các tổ hợp tư vấn - chế tạo mạnh và tham gia sâu vào các dự án trọng điểm vẫn còn hạn chế.

Trước dư địa thị trường hàng chục triệu tỷ đồng từ các chương trình đầu tư quốc gia giai đoạn 2026-2045, cơ chế, chính sách đặc thù là điều kiện then chốt để chuyển nhu cầu đầu tư thành động lực phát triển ngành cơ khí.

Quy mô ngành cơ khí tăng nhanh nhưng nội lực chưa theo kịp

Theo số liệu tổng hợp của Cục Thống kê và số liệu ngoại thương do Bộ Công Thương cung cấp, quy mô ngành cơ khí Việt Nam tăng trưởng nhanh trong giai đoạn 2018-2025. Tổng giá trị sản xuất cơ khí tăng từ khoảng 1.626,3 nghìn tỷ đồng năm 2018 lên khoảng 3.225,5 nghìn tỷ đồng năm 2025, tương đương gần gấp hai lần, với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 10,3%/năm.

Hoạt động ngoại thương cũng ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực. Giá trị xuất khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng tăng từ 384,7 nghìn tỷ đồng năm 2018 lên 1.557,7 nghìn tỷ đồng năm 2025, trong khi nhập khẩu tăng từ 784,0 nghìn tỷ đồng lên 1.610,0 nghìn tỷ đồng. Nhờ đó, mức nhập siêu giảm từ 399,3 nghìn tỷ đồng xuống còn khoảng 52,3 nghìn tỷ đồng, cho thấy vị thế của ngành cơ khí Việt Nam trong thương mại quốc tế từng bước được cải thiện. Tuy nhiên, khu vực FDI vẫn chi phối khoảng 92-93% giá trị xuất khẩu và khoảng 75% giá trị nhập khẩu, phản ánh nội lực của doanh nghiệp cơ khí trong nước còn hạn chế.

Về tổ chức sản xuất, cả nước hiện có 43.601 cơ sở hoạt động trong lĩnh vực cơ khí, chiếm gần 30% số doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo. Trong đó, cơ khí chế tạo có 22.705 đơn vị, phương tiện vận tải 1.395 đơn vị và thiết bị điện 1.946 đơn vị. Ngành đạt doanh thu trên 3,2 triệu tỷ đồng và tạo việc làm cho hơn 1,57 triệu lao động; riêng cơ khí chế tạo khoảng 0,55 triệu người, phương tiện vận tải 0,29 triệu người và thiết bị điện 0,26 triệu người.

Dây chuyền hàn khung vỏ xe điện VinFast VF 3 do Trung tâm Cơ khí nặng, Viện Nghiên cứu Cơ khí (NARIME) thiết kế, chế tạo và tích hợp.

Dây chuyền hàn khung vỏ xe điện VinFast VF 3 do Trung tâm Cơ khí nặng, Viện Nghiên cứu Cơ khí (NARIME) thiết kế, chế tạo và tích hợp.

Đánh giá kết quả thực hiện Quyết định số 319/QĐ-TTg cho thấy quy mô sản xuất được mở rộng, một số phân ngành phát triển tích cực và xuất khẩu tăng nhanh. Tuy nhiên, những mục tiêu về phát triển chiều sâu chưa đạt như kỳ vọng. Năng lực làm chủ công nghệ lõi, hình thành các tổ hợp tư vấn - chế tạo mạnh và nâng cao vai trò của doanh nghiệp trong nước trong các dự án trọng điểm vẫn chưa có chuyển biến rõ rệt.

Quyết định số 319/QĐ-TTg đặt ra hệ thống mục tiêu tương đối toàn diện cho ngành cơ khí đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035. Trọng tâm là nâng cao năng lực tự chủ để đáp ứng khoảng 45% nhu cầu thị trường trong nước vào năm 2035; thúc đẩy xuất khẩu, với tỷ trọng sản lượng xuất khẩu đạt khoảng 35% vào năm 2020 và 45% vào năm 2035. Về năng lực sản xuất, Chiến lược hướng tới hình thành các tập đoàn cơ khí mạnh, các tổ hợp tư vấn - chế tạo đủ năng lực đảm nhận vai trò tổng thầu EPC cho các dự án quy mô lớn trong lĩnh vực năng lượng, công nghiệp và hạ tầng. Cùng với đó Chiến lược cũng hướng tới phát triển hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ, giúp doanh nghiệp trong nước làm chủ công nghệ, tăng hàm lượng thiết kế và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Nhìn chung, việc thực hiện các mục tiêu của Quyết định số 319/QĐ-TTg mới đạt mức trung bình khá. Qui mô sản xuất được mở rộng, xuất khẩu tăng mạnh. Giá trị xuất khẩu năm 2025 tăng gấp khoảng bốn lần so với năm 2018, nhưng sự phát triển giữa các phân ngành còn thiếu đồng đều; nhiều lĩnh vực công nghệ cao vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu, tỷ lệ nội địa hóa thấp. Một số doanh nghiệp đầu tàu như THACO, VinFast cùng các đơn vị có năng lực như LILAMA và PV Shipyard đã từng bước khẳng định vị thế, song năng lực làm chủ thiết kế, vai trò tổng thầu và hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ vẫn chưa đáp ứng mục tiêu của Chiến lược. Đặc biệt, tăng trưởng xuất khẩu vẫn chủ yếu dựa vào khu vực FDI, cho thấy doanh nghiệp cơ khí Việt Nam chưa tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Thị trường rộng mở, nhưng doanh nghiệp cơ khí vẫn khó nắm bắt cơ hội

Một trong những rào cản lớn là sau khi Quyết định số 319/QĐ-TTg được ban hành, hệ thống cơ chế thực thi và nguồn lực hỗ trợ chưa đủ đồng bộ, đủ mạnh để đưa các mục tiêu chiến lược vào thực tế. Ngành cơ khí cũng thiếu một thị trường nội địa ổn định và các đơn hàng dài hạn từ những dự án quốc gia để doanh nghiệp tích lũy kinh nghiệm, mở rộng quy mô và từng bước làm chủ công nghệ lõi.

Bên cạnh đó, nội lực của phần lớn doanh nghiệp trong nước còn yếu, quy mô nhỏ và năng lực tài chính hạn chế. Không ít doanh nghiệp khi thị trường thuận lợi vẫn lựa chọn nhập khẩu thay vì kiên trì đầu tư tự chủ. Vai trò của các doanh nghiệp đầu đàn cũng chưa như kỳ vọng, nhất là trong việc dẫn dắt, liên kết và nâng đỡ hệ thống doanh nghiệp vệ tinh trong nước.

Thực tiễn triển khai cho thấy một chiến lược đúng mới chỉ là điều kiện cần. Muốn đạt được kết quả, cần có chương trình hành động cụ thể, gắn với trách nhiệm, nguồn lực và tiến độ rõ ràng cho từng lĩnh vực ưu tiên. Bài học quan trọng là phải gắn nâng cao năng lực doanh nghiệp với khai thác thị trường trong nước. Các dự án trọng điểm quốc gia cần được xem như những "đơn hàng lớn", đồng thời là môi trường để doanh nghiệp cơ khí trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, tích lũy kinh nghiệm và tiến tới làm chủ công nghệ.

Bước sang giai đoạn 2026-2045, ngành cơ khí Việt Nam đứng trước cơ hội phát triển mới khi nhu cầu đầu tư vào các lĩnh vực hạ tầng, năng lượng và công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục gia tăng. Trên cơ sở lấy quy mô sản xuất cơ khí năm 2025 làm năm gốc và kịch bản tăng trưởng khoảng 10%/năm, tổng quy mô thị trường cơ khí trong cả giai đoạn được dự báo đạt khoảng 21.699,6 nghìn tỷ đồng. Đây là dư địa đủ lớn để thúc đẩy doanh nghiệp cơ khí trong nước mở rộng sản xuất, nâng cao năng lực công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Điện gió ngoài khơi mở ra thị trường lớn cho ngành cơ khí trong chế tạo kết cấu, chân đế, trạm biến áp và các thiết bị phụ trợ.

Điện gió ngoài khơi mở ra thị trường lớn cho ngành cơ khí trong chế tạo kết cấu, chân đế, trạm biến áp và các thiết bị phụ trợ.

Trong các lĩnh vực trọng điểm, thị trường điện gió ngoài khơi được dự báo đạt khoảng 3.165,6-4.484,6 nghìn tỷ đồng; điện khí/LNG khoảng 1.055,2-1.450,9 nghìn tỷ đồng; ba lĩnh vực đường sắt đô thị, đường sắt liên vùng và đường sắt tốc độ cao đạt khoảng 3.418,8-3.693,2 nghìn tỷ đồng; khai thác và chế biến khoáng sản khoảng 1.055,2-1.582,8 nghìn tỷ đồng; điện hạt nhân khoảng 2.844,8-4.267,2 nghìn tỷ đồng. Đây đều là những lĩnh vực có giá trị thiết bị lớn, yêu cầu kỹ thuật cao và có khả năng tạo thị trường dẫn dắt cho ngành cơ khí nếu doanh nghiệp Việt Nam được tham gia ngay từ giai đoạn đầu của các dự án bằng cơ chế phù hợp.

Từ các dự báo trên có thể thấy, thị trường trong nước giai đoạn 2026-2045 đủ lớn để tạo động lực mới cho ngành cơ khí, nhưng cần lựa chọn đúng trọng tâm. Các lĩnh vực như đường sắt, năng lượng, lưới điện, khai thác và chế biến khoáng sản, đóng tàu, ô tô - xe máy, thiết bị điện, cơ khí nông nghiệp, thiết bị đồng bộ và dịch vụ kỹ thuật sau đầu tư cần được xác định là những lĩnh vực ưu tiên, vừa có nhu cầu thị trường lớn, vừa có khả năng lan tỏa sang công nghiệp hỗ trợ và hình thành các doanh nghiệp cơ khí nòng cốt.

Nói cách khác, cơ hội của cơ khí Việt Nam nằm ngay trong thị trường trong nước. Vấn đề then chốt là phải biến nhu cầu đầu tư thành đơn hàng cụ thể, nhiệm vụ chuyển giao công nghệ cụ thể và yêu cầu nội địa hóa cụ thể cho doanh nghiệp Việt Nam. Nếu thiếu cơ chế thực hiện rõ ràng, phần lớn giá trị thiết bị của các dự án lớn vẫn sẽ thuộc về nhà thầu và nhà cung cấp nước ngoài.

Tuy nhiên, dư địa thị trường lớn không đồng nghĩa với cơ hội sẽ thuộc về doanh nghiệp trong nước. Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp cơ khí Việt Nam vẫn đứng ngoài các khâu có giá trị gia tăng cao của các dự án trọng điểm từ đường sắt đô thị, đường sắt liên vùng, điện khí, điện gió ngoài khơi, khai thác và chế biến khoáng sản. Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là năng lực thiết kế tổng thể, tích hợp hệ thống và làm chủ công nghệ còn hạn chế. Trong khi các đối tác nước ngoài đảm nhiệm các khâu cốt lõi như thiết kế, công nghệ, phần mềm điều khiển và tiêu chuẩn tích hợp, doanh nghiệp trong nước chủ yếu tham gia gia công kết cấu thép, chế tạo chi tiết đơn lẻ hoặc lắp đặt thiết bị.

Việc thiếu đội ngũ tư vấn thiết kế đủ mạnh cũng khiến doanh nghiệp trong nước bị động trong mua sắm thiết bị và dịch vụ kỹ thuật chuyên sâu. Chẳng hạn, ở các dự án điện gió ngoài khơi, doanh nghiệp trong nước có thể tham gia tốt hơn ở các hạng mục như chân đế, kết cấu thép, trạm biến áp; nhưng các khâu then chốt như thiết kế tổng thể, tích hợp hệ thống, tuabin, điều khiển và quản trị vận hành vẫn phụ thuộc nhiều vào nhà cung cấp nước ngoài. Khi chưa làm chủ thiết kế tích hợp, doanh nghiệp nội chỉ tham gia ở phần giá trị thấp, mất quyền chủ động về nguồn cung linh kiện và phụ thuộc vào yêu cầu kỹ thuật từ bên ngoài. Nếu không đầu tư nghiêm túc cho R&D và hình thành các liên minh công nghệ để giải bài toán tích hợp, cơ khí Việt Nam khó thoát khỏi vị trí gia công, lắp ráp, trong khi các đơn hàng lớn tiếp tục thuộc về các tập đoàn đa quốc gia.

Cơ chế đặc thù và 4 giải pháp tạo đột phá cho ngành cơ khí

Việc ban hành cơ chế, chính sách đặc thù cho ngành cơ khí giai đoạn 2026-2045 là yêu cầu cấp thiết nhằm phá vỡ vòng luẩn quẩn "năng lực yếu vì thiếu cơ hội, thiếu cơ hội vì năng lực yếu", từng bước giúp doanh nghiệp Việt Nam thoát khỏi tình trạng làm thuê ngay trên sân nhà. Theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW về đẩy mạnh công nghiệp hóa và Chiến lược phát triển ngành cơ khí, cần có chính sách đủ mạnh để biến các dự án lớn của quốc gia thành thị trường thực chất cho doanh nghiệp trong nước, thay vì để phần lớn giá trị rơi vào nhà thầu nước ngoài. Chỉ khi có cơ chế mang tính đột phá, doanh nghiệp mới có động lực đầu tư vào các khâu cốt yếu như thiết kế, tích hợp hệ thống, thử nghiệm, chứng nhận và quản trị dự án, từ đó tạo nền tảng cho một nền công nghiệp cơ khí tự chủ hơn.

Cơ chế hỗ trợ cần tập trung vào những lĩnh vực có dung lượng thị trường lớn, tác động lan tỏa cao và có khả năng đưa doanh nghiệp Việt Nam lên các khâu thiết kế, tích hợp hệ thống, quản lý dự án và chế tạo thiết bị. Hỗ trợ phải có điều kiện, có thời hạn, có tiêu chí lượng hóa và gắn với kết quả đầu ra; không nên dàn trải cho toàn ngành mà cần ưu tiên sản phẩm cơ khí trọng điểm, doanh nghiệp nòng cốt, dự án ưu tiên và các khâu có giá trị gia tăng cao.

Sản xuất, lắp ráp toa xe và thiết bị đường sắt là một trong những lĩnh vực có dư địa lớn để doanh nghiệp cơ khí Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Sản xuất, lắp ráp toa xe và thiết bị đường sắt là một trong những lĩnh vực có dư địa lớn để doanh nghiệp cơ khí Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Để tận dụng hiệu quả dư địa thị trường giai đoạn 2026-2045, cần tập trung triển khai bốn nhóm giải pháp trọng tâm, gồm phát triển sản phẩm chiến lược, làm chủ công nghệ, xây dựng doanh nghiệp nòng cốt và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là những trụ cột quyết định năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia sâu hơn của doanh nghiệp cơ khí Việt Nam vào chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.

Trước hết, cần ưu tiên phát triển các sản phẩm cơ khí có dung lượng thị trường lớn, gắn với các chương trình, dự án đầu tư trọng điểm quốc gia và nhu cầu của các ngành năng lượng, giao thông, khai khoáng, công nghiệp chế biến, chế tạo và nông nghiệp. Các chương trình cần sử dụng thị trường trong nước làm bệ đỡ thực chất để từng bước làm chủ thiết kế, tích hợp hệ thống, quản lý dự án, tổng thầu, chế tạo thiết bị và phát triển công nghiệp hỗ trợ; đồng thời tập trung vào những sản phẩm có khả năng tạo sức lan tỏa, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và hình thành chuỗi cung ứng trong nước, có khả năng đưa doanh nghiệp Việt Nam lên các khâu có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị công nghiệp.

Cùng với đó, nâng cao năng lực thiết kế, nghiên cứu, chuyển giao và làm chủ công nghệ phải được xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam cần từng bước chuyển từ vị trí chủ yếu gia công, chế tạo từng phần lên làm chủ thiết kế kỹ thuật, thiết kế tổng thể, tích hợp hệ thống, quản lý dự án và tổng thầu trong các lĩnh vực ưu tiên. Đến năm 2035 cần hình thành ít nhất một trung tâm thử nghiệm đường sắt quốc gia phục vụ mô phỏng, thử nghiệm và cấp chứng nhận độc lập. Trong giai đoạn 2026-2035, cần ưu tiên ít nhất một chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia cho từng nhóm sản phẩm quan trọng như thiết bị đường sắt, điện gió ngoài khơi, khai thác và chế biến khoáng sản, đóng tàu; đồng thời đến năm 2030, mỗi nhóm sản phẩm ưu tiên cần có ít nhất một chương trình nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm cấp quốc gia hoặc cấp bộ, gắn với doanh nghiệp nòng cốt và sản phẩm đầu ra cụ thể.

Một giải pháp quan trọng khác là phát triển doanh nghiệp cơ khí nòng cốt, nâng cao năng lực sản xuất: Cần lựa chọn các doanh nghiệp có quy mô đủ lớn, nền tảng tài chính vững chắc và trình độ quản trị tốt để giữ vai trò dẫn dắt chuỗi cung ứng, tiếp nhận chuyển giao và từng bước làm chủ công nghệ nguồn. Lộ trình đề xuất là đến năm 2030 hỗ trợ 7-10 doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực trọng điểm như đường sắt, năng lượng, khai khoáng, đóng tàu, robot - tự động hóa; đến năm 2035 hình thành 7-10 doanh nghiệp nòng cốt, trong đó có 3-5 đơn vị đủ năng lực làm tổng thầu hoặc tích hợp hệ thống lớn; đến năm 2045 đạt 15-20 doanh nghiệp nòng cốt, trong đó 5-7 doanh nghiệp đạt trình độ khu vực. Các đơn vị này phải đáp ứng tiêu chí về R&D, năng lực engineering và cam kết phát triển mạng lưới nhà cung ứng nội địa. Mỗi chu kỳ 05 năm, doanh nghiệp được giao chỉ tiêu cụ thể về số nhóm sản phẩm làm chủ thiết kế, tỷ lệ giá trị gia tăng và doanh thu dịch vụ kỹ thuật; nếu không đạt cam kết sau 03 năm đánh giá thì đưa ra khỏi danh mục ưu tiên.

Song song với đó, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố nền tảng để nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo và quản trị. Trước năm 2030, cần hoàn thành việc rà soát, điều chỉnh chương trình đào tạo đại học và sau đại học theo nhu cầu thực tế của doanh nghiệp cơ khí trọng điểm, hình thành ít nhất 20 chương trình đào tạo gắn trực tiếp với dự án thực tế. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương, các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp triển khai chương trình đào tạo công nhân kỹ thuật lành nghề và nhân lực sản xuất thông minh. Mục tiêu đến năm 2035 là đào tạo khoảng 20.000-25.000 kỹ sư, chuyên gia và 150.000-200.000 lao động kỹ thuật lành nghề; tiếp tục mở rộng quy mô đến năm 2045 để đáp ứng yêu cầu của các chương trình trọng điểm và quá trình chuyển đổi số trong ngành cơ khí.

Ngành cơ khí giữ vai trò nền tảng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế. Mức độ phát triển của ngành quyết định khả năng cung ứng máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ và dịch vụ kỹ thuật cho các ngành sản xuất; đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực triển khai các dự án lớn về năng lượng, giao thông, khai khoáng, quốc phòng và hạ tầng kỹ thuật.

Giai đoạn 2026-2045 mở ra thị trường rất lớn cho cơ khí Việt Nam, nhất là trong các lĩnh vực năng lượng, đường sắt, giao thông vận tải, khai khoáng, công nghiệp chế biến chế tạo, đóng tàu, nông nghiệp và logistics. Đây là cơ hội quan trọng để nâng cao năng lực doanh nghiệp cơ khí trong nước. Tuy nhiên cơ hội chỉ có thể chuyển hóa thành kết quả thực chất khi có chiến lược đúng, cơ chế đủ mạnh và tổ chức thực hiện hiệu quả. Việc triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp trên sẽ góp phần xây dựng ngành cơ khí Việt Nam hiện đại, nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống, làm chủ công nghệ, tăng tỷ lệ giá trị do doanh nghiệp Việt Nam thực hiện và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

TS. Phan Đăng Phong - Viện Nghiên cứu Cơ khí

Nguồn Tạp chí Công thương: https://tapchicongthuong.vn/phat-trien-nganh-co-khi-giai-doan-2026-2045--can-co-che--chinh-sach-dac-thu-535304.htm