Phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn 2045: Gắn mục tiêu chiến lược với năng lực doanh nghiệp

Ngày 23/10/2026, tại Hà Nội, Hội thảo “Xây dựng Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045” tập trung đánh giá thực trạng, xác định các lĩnh vực ưu tiên và thảo luận cơ chế phát triển ngành. Trước nhu cầu đầu tư lớn trong các lĩnh vực công nghiệp và hạ tầng, vấn đề đặt ra là nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo và làm chủ công nghệ để doanh nghiệp cơ khí Việt Nam tận dụng cơ hội thị trường trong giai đoạn mới.

Tham dự Hội thảo có ông Trần Việt Hòa - Cục trưởng Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương; bà Nguyễn Thị Lâm Giang - Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số, Bộ Công Thương; PGS.TS. Nguyễn Chỉ Sáng - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI); TS. Phan Đăng Phong - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí, cùng đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội ngành nghề, viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp trong lĩnh vực cơ khí.

Các đại biểu chủ trì Hội thảo “Xây dựng Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045”

Các đại biểu chủ trì Hội thảo “Xây dựng Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045”

Phát biểu khai mạc Hội thảo, TS. Phan Đăng Phong - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí cho biết, thực hiện nhiệm vụ của Bộ Công Thương, Viện đang chủ trì xây dựng Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045. Việc xây dựng Chiến lược nhằm xác định những định hướng, mục tiêu và giải pháp phát triển phù hợp với yêu cầu nâng cao năng lực công nghiệp và tự chủ công nghệ trong giai đoạn mới.

Theo ông Phan Đăng Phong, ngành cơ khí Việt Nam đã có những bước tiến trong thiết kế, chế tạo thiết bị cho các nhà máy thủy điện, nhiệt điện, xi măng, các dự án khai thác và chế biến khoáng sản; đồng thời từng bước tham gia các lĩnh vực dầu khí, ô tô và tự động hóa sản xuất. Tuy nhiên, năng lực thiết kế tổng thể, tích hợp hệ thống và cung cấp thiết bị đồng bộ của các doanh nghiệp cơ khí trong nước vẫn còn hạn chế. Mối liên kết giữa nghiên cứu và sản xuất chưa chặt chẽ, nhiều kết quả nghiên cứu chưa được thương mại hóa, trong khi ngành cơ khí vẫn phụ thuộc đáng kể vào máy móc, thiết bị nhập khẩu.

TS. Phan Đăng Phong - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí phát biểu tại Hội thảo “Xây dựng Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045”

TS. Phan Đăng Phong - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí phát biểu tại Hội thảo “Xây dựng Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045”

Từ thực tế đó, ông Phan Đăng Phong đề nghị các đại biểu tập trung thảo luận bốn nội dung: đánh giá thực trạng và bài học từ các chiến lược, chính sách trước đây; lựa chọn lĩnh vực, sản phẩm và công nghệ ưu tiên; đề xuất cơ chế gắn các dự án đầu tư lớn với quá trình làm chủ công nghệ; đồng thời bảo đảm khả năng triển khai và đánh giá kết quả thực hiện Chiến lược. Ông Phan Đăng Phong đề nghị các doanh nghiệp chia sẻ cụ thể về khả năng tham gia các dự án, những khó khăn đang gặp phải và điều kiện cần thiết để đầu tư nâng cao năng lực.

Các ý kiến đóng góp tại Hội thảo sẽ được Ban Tổ chức và nhóm nghiên cứu tổng hợp, nghiên cứu tiếp thu để hoàn thiện dự thảo Chiến lược theo hướng sát thực tiễn, có trọng tâm và bảo đảm tính khả thi.

Nhìn lại kết quả phát triển ngành cơ khí và những yêu cầu đặt ra

Trình bày Báo cáo xây dựng Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045, TS. Phan Đăng Phong đánh giá kết quả phát triển ngành giai đoạn 2018–2025, những hạn chế trong thực hiện Chiến lược theo Quyết định số 319/QĐ-TTg và yêu cầu đặt ra đối với giai đoạn tới.

Trong giai đoạn 2018–2025, tổng giá trị sản xuất ngành cơ khí tăng từ 1.626,3 nghìn tỷ đồng lên khoảng 3.225,5 nghìn tỷ đồng, gần gấp đôi sau bảy năm, với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 10,3%/năm. Tuy nhiên, tăng trưởng về quy mô sản xuất chưa đi đôi với sự phát triển tương xứng về năng lực của doanh nghiệp cơ khí trong nước. Tỷ trọng khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trong tổng giá trị sản xuất ngành tăng từ 55% năm 2018 lên 61,6% năm 2025, trong khi khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm 34% và khu vực nhà nước chỉ chiếm 1,1%.

Trong hoạt động xuất khẩu, sự chi phối của khu vực FDI càng rõ nét. Năm 2025, giá trị xuất khẩu nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đạt 1.557,7 nghìn tỷ đồng, trong đó khu vực FDI chiếm khoảng 93%. Kết quả này cho thấy ngành cơ khí đã mở rộng đáng kể quy mô sản xuất và xuất khẩu, nhưng năng lực nội sinh của doanh nghiệp trong nước chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng chung.

Dù vậy, một số lĩnh vực đã đạt được kết quả tích cực về làm chủ công nghệ. Điển hình là cơ khí thủy công, với việc Viện Nghiên cứu Cơ khí cùng các đơn vị trong nước tự thiết kế, chế tạo thiết bị cho hơn 29 công trình thủy điện vừa và lớn, trong đó có thủy điện Sơn La và Lai Châu. Đây là một trong những lĩnh vực cho thấy khả năng nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo của doanh nghiệp Việt Nam khi được tham gia thực hiện các công trình lớn.

Tuy nhiên, những kết quả này chưa được mở rộng đồng đều sang các phân ngành khác. Năng lực thiết kế công nghệ, thiết kế tổng thể, tích hợp hệ thống và cung cấp thiết bị đồng bộ vẫn là những khâu yếu. Trong nhiều dự án công nghiệp lớn, doanh nghiệp trong nước chủ yếu tham gia chế tạo thiết bị phụ trợ, gia công và lắp đặt, trong khi công nghệ, thiết bị chính và thiết kế tổng thể vẫn phụ thuộc vào đối tác nước ngoài.

Bên cạnh đó, phần lớn doanh nghiệp cơ khí nội địa có quy mô vừa và nhỏ, hạn chế về tiềm lực tài chính, trình độ công nghệ và khả năng liên kết. Công nghiệp hỗ trợ chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu về chất lượng, giá thành, tiêu chuẩn kỹ thuật và tiến độ cung ứng cho các doanh nghiệp đầu chuỗi.

Đánh giá kết quả thực hiện Quyết định số 319/QĐ-TTg ngày 15/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ, TS. Phan Đăng Phong cho biết, ngành cơ khí đã có những chuyển biến tích cực về quy mô sản xuất và xuất khẩu. Tuy nhiên, các mục tiêu về làm chủ công nghệ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, hình thành doanh nghiệp dẫn dắt và đảm nhận vai trò tổng thầu, nhà tích hợp hệ thống trong các dự án công nghiệp lớn vẫn chưa đạt yêu cầu.

Một trong những nguyên nhân là thiếu cơ chế tạo thị trường đủ mạnh cho doanh nghiệp trong nước. Nhiều dự án công nghiệp lớn được đấu thầu trọn gói với yêu cầu cao về kinh nghiệm thực hiện và bảo lãnh, khiến doanh nghiệp cơ khí Việt Nam khó tham gia ngay từ giai đoạn thiết kế, lựa chọn công nghệ và tổ chức cung ứng thiết bị.

Từ thực tế đó, vấn đề đặt ra đối với Chiến lược phát triển ngành cơ khí giai đoạn mới không chỉ là tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất mà phải nâng cao năng lực làm chủ công nghệ, thiết kế, chế tạo và tích hợp hệ thống của doanh nghiệp trong nước. Đây là cơ sở để xác định các lĩnh vực, sản phẩm ưu tiên và lựa chọn cơ chế chính sách phù hợp, hướng tới gia tăng tỷ lệ nội địa hóa thực chất và khả năng tham gia những khâu có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi sản xuất công nghiệp.

Định hướng, mục tiêu và các lĩnh vực ưu tiên 

Trên cơ sở đánh giá thực trạng và tiềm năng thị trường, dự thảo Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 xác định trọng tâm là nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống và cung cấp dịch vụ kỹ thuật của doanh nghiệp trong nước. Thay vì phát triển dàn trải, việc lựa chọn sản phẩm ưu tiên được đặt trong mối quan hệ giữa nhu cầu thị trường, khả năng tham gia của doanh nghiệp và điều kiện làm chủ công nghệ.

Giai đoạn 2026–2045, nhu cầu đầu tư trong các lĩnh vực năng lượng, đường sắt, khai thác và chế biến khoáng sản, đóng tàu và công nghiệp chế biến, chế tạo được dự báo sẽ mở ra thị trường lớn cho ngành cơ khí Việt Nam. Tuy nhiên, để tận dụng cơ hội này, doanh nghiệp trong nước cần xác định những sản phẩm có khả năng cung ứng, công nghệ cần làm chủ và từng bước nâng cao năng lực tham gia các dự án công nghiệp lớn.

Về triển vọng phát triển, TS. Phan Đăng Phong trình bày ba kịch bản tăng trưởng giá trị sản xuất ngành cơ khí giai đoạn 2026–2045, với tốc độ bình quân 6,5%, 10% và 12%/năm. Theo kịch bản tăng trưởng 10%/năm, giá trị sản xuất ngành cơ khí dự kiến đạt khoảng 5.194,7 nghìn tỷ đồng năm 2030, 8.366,1 nghìn tỷ đồng năm 2035 và 21.699,6 nghìn tỷ đồng năm 2045.

Đến năm 2030, dự thảo Chiến lược đặt mục tiêu nâng tỷ lệ nội địa hóa ngành cơ khí lên khoảng 35%, tỷ lệ làm chủ thiết kế và chế tạo đạt 45%, giá trị tăng thêm chiếm khoảng 25% giá trị sản xuất toàn ngành. Cùng với đó, phấn đấu nâng cấp công nghệ và năng lực quản trị cho ít nhất 300 doanh nghiệp cơ khí nòng cốt, triển khai tối thiểu 5 chương trình, dự án mẫu về chuyển giao công nghệ, thiết kế và tích hợp hệ thống.

Phát triển ngành cơ khí Việt Nam theo hướng hiện đại, nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo, làm chủ công nghệ và tăng khả năng tham gia chuỗi cung ứng trong nước và quốc tế.

Phát triển ngành cơ khí Việt Nam theo hướng hiện đại, nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo, làm chủ công nghệ và tăng khả năng tham gia chuỗi cung ứng trong nước và quốc tế.

Đến năm 2035, dự thảo Chiến lược đặt mục tiêu tỷ lệ nội địa hóa ngành cơ khí đạt khoảng 40%, tỷ lệ làm chủ thiết kế và chế tạo đạt 55%, giá trị tăng thêm chiếm khoảng 30% giá trị sản xuất toàn ngành. Đồng thời, hình thành khoảng 500 doanh nghiệp cơ khí nòng cốt, trong đó có 3–5 doanh nghiệp đủ năng lực đảm nhận vai trò tổng thầu hoặc nhà tích hợp hệ thống tại các dự án công nghiệp lớn; công nghiệp hỗ trợ đáp ứng khoảng 50% nhu cầu vật liệu, linh kiện, phụ tùng và chi tiết cơ khí trong nước.

Tầm nhìn đến năm 2045, dự thảo Chiến lược đặt mục tiêu tỷ lệ nội địa hóa ngành cơ khí đạt khoảng 60%, tỷ lệ làm chủ thiết kế và chế tạo đạt 75%, giá trị tăng thêm chiếm khoảng 45% giá trị sản xuất toàn ngành. Đồng thời, hình thành khoảng 1.200 doanh nghiệp cơ khí nòng cốt, trong đó có 5–7 doanh nghiệp lớn đạt trình độ khu vực, đủ năng lực thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống và đảm nhận các dự án công nghiệp quy mô lớn.

Để đạt được các mục tiêu trên, dự thảo Chiến lược ưu tiên phát triển những lĩnh vực có nhu cầu thị trường lớn và khả năng hình thành chuỗi cung ứng trong nước. Trong đó, cơ khí đường sắt được xác định là một trong những lĩnh vực trọng điểm, gắn với các dự án đường sắt đô thị, đường sắt liên vùng và đường sắt tốc độ cao. Định hướng phát triển là từng bước làm chủ công nghệ chế tạo các cụm thiết bị, hệ thống phụ trợ, tiến tới nâng cao năng lực thiết kế và tích hợp hệ thống.

Trong lĩnh vực năng lượng, trọng tâm là thiết bị phục vụ điện khí, điện gió, lưới điện, các hệ thống phụ trợ và dịch vụ kỹ thuật. Đối với khai thác và chế biến khoáng sản, dự thảo chú trọng thiết bị, dây chuyền phục vụ khai thác bô-xít, sản xuất alumin và điện phân nhôm. Các lĩnh vực đóng tàu, công nghiệp hỗ trợ, cơ khí chính xác, tự động hóa và máy nông nghiệp cũng được xác định trong định hướng phát triển.

Điểm đáng chú ý là việc lựa chọn sản phẩm trọng điểm không chỉ căn cứ vào quy mô đầu tư, mà dựa trên bốn tiêu chí: dung lượng thị trường; khả năng tham gia thực chất của doanh nghiệp Việt Nam; tác động lan tỏa đối với công nghệ, công nghiệp hỗ trợ và nhân lực; khả năng triển khai cơ chế đặt hàng, chuyển giao công nghệ và xác định giá trị gia tăng trong nước. Cách tiếp cận này nhằm tập trung nguồn lực vào những sản phẩm có nhu cầu rõ ràng, có doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia và có khả năng từng bước nâng cao năng lực công nghệ.

Về lộ trình thực hiện, giai đoạn 2026–2030 tập trung hoàn thiện thể chế, xây dựng cơ sở dữ liệu và triển khai các dự án mẫu; giai đoạn 2031–2035 chú trọng nâng cấp công nghệ, phát triển doanh nghiệp nòng cốt và mở rộng năng lực thiết kế, tích hợp hệ thống. Giai đoạn 2036–2045 hướng tới hình thành các chuỗi cung ứng có năng lực cạnh tranh và từng bước nâng cao mức độ tự chủ công nghệ.

Như vậy, trọng tâm của dự thảo Chiến lược không chỉ nằm ở các mục tiêu tăng trưởng và nội địa hóa, mà còn ở khả năng chuyển nhu cầu từ những dự án đầu tư lớn thành cơ hội phát triển năng lực cho doanh nghiệp cơ khí Việt Nam. Để thực hiện được điều đó, các lĩnh vực ưu tiên cần đi kèm cơ chế phát triển thị trường, chuyển giao công nghệ và hỗ trợ doanh nghiệp đủ cụ thể, khả thi.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách để nâng cao năng lực ngành cơ khí

Để thực hiện các mục tiêu đề ra, dự thảo Chiến lược đề xuất hoàn thiện chính sách theo hướng gắn hỗ trợ doanh nghiệp với nhu cầu thị trường và kết quả thực hiện. Các giải pháp tập trung tháo gỡ vướng mắc về đầu tư, đấu thầu, tín dụng, khoa học công nghệ, chuyển giao công nghệ và phát triển công nghiệp hỗ trợ; đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu về năng lực doanh nghiệp, sản phẩm và nhu cầu thiết bị của các ngành công nghiệp.

Một trong những đề xuất đáng chú ý là tạo điều kiện để doanh nghiệp cơ khí trong nước tiếp cận sớm thông tin về các dự án đầu tư lớn. Dự thảo nghiên cứu cơ chế gắn yêu cầu nội địa hóa, chuyển giao công nghệ và phát triển nhà cung ứng với quá trình triển khai dự án, bảo đảm chất lượng, cạnh tranh và tuân thủ pháp luật.

Giai đoạn 2026–2035, dự thảo đề xuất nghiên cứu thí điểm cơ chế lựa chọn nhà thầu hoặc giao nhiệm vụ có điều kiện cho các liên danh trong nước đảm nhận vai trò tổng thầu EPC hoặc cung cấp thiết bị tại một số dự án thuộc lĩnh vực đường sắt, điện gió ngoài khơi, alumin và nhôm. Mục tiêu là tạo cơ hội để doanh nghiệp tích lũy kinh nghiệm thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống và quản lý dự án. Các chính sách hỗ trợ được định hướng thực hiện có thời hạn, tiêu chí cụ thể và gắn với kết quả đầu ra.

Trong tham luận tại Hội thảo, Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương đề xuất lựa chọn các nhóm sản phẩm cơ khí ưu tiên dựa trên nhu cầu thị trường, năng lực hiện có của doanh nghiệp và khả năng phát triển liên kết sản xuất trong nước. Đồng thời, tăng cường phối hợp với các bộ, ngành, chủ đầu tư và doanh nghiệp sử dụng thiết bị để xác định sớm nhu cầu sản phẩm, tiến độ dự án và yêu cầu kỹ thuật, qua đó kết nối doanh nghiệp chế tạo trong nước tham gia cung ứng.

PGS.TS. Nguyễn Chỉ Sáng - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI) kiến nghị làm rõ cơ chế thực thi và lộ trình ban hành các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cơ khí trong giai đoạn mới.

PGS.TS. Nguyễn Chỉ Sáng - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI) kiến nghị làm rõ cơ chế thực thi và lộ trình ban hành các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cơ khí trong giai đoạn mới.

PGS.TS. Nguyễn Chỉ Sáng - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI) đánh giá cao việc dự thảo Chiến lược đã làm rõ tiềm năng thị trường và những hạn chế trong thực hiện Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 theo Quyết định số 319/QĐ-TTg. Tuy nhiên, ông cho rằng cần xác định rõ các cơ chế, chính sách cụ thể và lộ trình ban hành sau khi Chiến lược mới được phê duyệt, tránh lặp lại những bất cập trong tổ chức thực hiện khiến nhiều mục tiêu phát triển ngành cơ khí chưa đạt kỳ vọng.

Ông Nguyễn Chỉ Sáng cũng đề nghị xem xét điều chỉnh mục tiêu nội địa hóa 35% vào năm 2030 trong dự thảo Chiến lược, cho rằng chỉ tiêu này còn khiêm tốn. Trao đổi về vấn đề này, đại diện nhóm biên tập cho biết sẽ tiếp tục rà soát phương pháp tính, làm rõ phạm vi nội địa hóa và đối chiếu với các mục tiêu của Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ để hoàn thiện dự thảo.

Đại diện LILAMA kiến nghị có cơ chế tạo thị trường ổn định, đồng thời tháo gỡ vướng mắc về tín dụng, bảo lãnh hợp đồng

Đại diện LILAMA kiến nghị có cơ chế tạo thị trường ổn định, đồng thời tháo gỡ vướng mắc về tín dụng, bảo lãnh hợp đồng

Từ thực tiễn triển khai các dự án công nghiệp, đại diện Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - CTCP (LILAMA) nhấn mạnh, doanh nghiệp cần có thị trường và đơn hàng ổn định để đầu tư công nghệ, chuyên môn hóa sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh. Việc thiếu đơn hàng dài hạn khiến doanh nghiệp khó mạnh dạn đầu tư, mở rộng quy mô và giảm giá thành sản phẩm. Vì vậy, LILAMA kiến nghị có cơ chế tạo thị trường ổn định, đồng thời tháo gỡ vướng mắc về tín dụng, bảo lãnh hợp đồng, tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia các dự án công nghiệp lớn với vai trò nhà thầu chính, tổng thầu EPC.

Từ góc độ doanh nghiệp sử dụng thiết bị, đại diện Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PV Power) cho biết, các nhà máy điện đã vận hành từ 10 đến gần 20 năm đang có nhu cầu lớn về đại tu, sửa chữa và thay thế thiết bị, đặc biệt là các chi tiết cơ khí, hệ thống bơm, van và thiết bị nhiên liệu. Đây là những nhóm vật tư có thể từng bước gia công, phục hồi hoặc nội địa hóa trong nước.

PV Power đã triển khai hàng nghìn chi tiết vật tư theo hướng gia công, phục hồi; hợp tác với các viện nghiên cứu, doanh nghiệp cơ khí trong nước và từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu kỹ thuật phục vụ hoạt động này. Đối với các dự án điện LNG mới, nhu cầu mở rộng sang thiết kế, chế tạo kết cấu thép, đường ống công nghệ, thiết bị phụ trợ và dịch vụ bảo dưỡng, chẩn đoán thiết bị. Tổng công ty định hướng tăng cường sử dụng sản phẩm, dịch vụ trong nước khi đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, chất lượng và hiệu quả kinh tế.

Đại diện Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PV Power) đề cập nhu cầu gia công, phục hồi và nội địa hóa vật tư, thiết bị phục vụ vận hành, bảo dưỡng các nhà máy điện.

Đại diện Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PV Power) đề cập nhu cầu gia công, phục hồi và nội địa hóa vật tư, thiết bị phục vụ vận hành, bảo dưỡng các nhà máy điện.

Bên cạnh các giải pháp về thị trường và cơ chế chính sách, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cũng là yêu cầu được đặt ra tại Hội thảo. Về vấn đề này, đại diện Trường Cơ khí, Đại học Bách khoa Hà Nội nhấn mạnh yêu cầu đổi mới đào tạo theo hướng liên ngành, kết hợp cơ khí với trí tuệ nhân tạo, công nghệ số và tự động hóa. Nhà trường đề xuất mở rộng mô hình đồng đào tạo giữa trường đại học và doanh nghiệp, đẩy mạnh đào tạo dựa trên dự án, tạo điều kiện để sinh viên giải quyết các bài toán kỹ thuật thực tế. Qua đó, gắn đào tạo và nghiên cứu với nhu cầu sản xuất, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực cho ngành cơ khí.

Những ý kiến tại Hội thảo cho thấy, yêu cầu đặt ra đối với dự thảo Chiến lược không chỉ là xác định mục tiêu phát triển, mà còn phải làm rõ cơ chế thực hiện, tạo thị trường ổn định và điều kiện để doanh nghiệp đầu tư nâng cao năng lực công nghệ. TS. Phan Đăng Phong cho biết, các ý kiến đóng góp tại Hội thảo sẽ được tổng hợp, nghiên cứu, tiếp thu để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Chiến lược theo hướng sát thực tiễn, có trọng tâm và khả thi, làm cơ sở định hướng phát triển ngành cơ khí Việt Nam trong giai đoạn tới.

Hưng Nguyên

Nguồn Tạp chí Công thương: https://tapchicongthuong.vn/phat-trien-nganh-co-khi-viet-nam-den-nam-2035--tam-nhin-2045--gan-muc-tieu-chien-luoc-voi-nang-luc-doanh-nghiep-560407.htm