Phát triển nuôi trồng thủy sản từ mặt nước hồ chứa

Nước ta hiện có hàng nghìn hồ chứa thủy lợi, thủy điện với tiềm năng lớn cho nuôi trồng thủy sản, nhưng chưa được khai thác tương xứng. Việc chuyển từ khai thác tự phát sang phát triển có quy hoạch, ứng dụng khoa học-công nghệ, hình thành chuỗi giá trị đang trở thành yêu cầu cấp thiết để biến 'mặt nước tĩnh' thành động lực tăng trưởng mới của ngành thủy sản.

Tiềm năng lớn nhưng phát triển chưa tương xứng

Cả nước hiện có khoảng 6.750 hồ chứa thủy lợi với tổng dung tích khoảng 14,5 tỷ mét khối cùng hơn 700 hồ chứa thủy điện, nâng tổng dung tích lên hơn 50 tỷ mét khối. Đặc biệt, có 13 hồ lớn với diện tích mặt nước hơn 5.000ha, một số hồ lên tới hàng chục nghìn héc-ta, tạo ra không gian sinh thái rộng lớn, phù hợp để phát triển nuôi trồng thủy sản quy mô lớn. Theo TS Nhữ Văn Cẩn, Phó cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), không chỉ là “bể chứa nước”, hệ thống hồ ở nước ta còn đóng vai trò đa mục tiêu: Điều tiết lũ, cấp nước sản xuất, phát điện, cung cấp nước sinh hoạt và bảo tồn nguồn gen thủy sản. Trong đó, tiềm năng nuôi trồng thủy sản được đánh giá là một trong những hướng khai thác hiệu quả, góp phần nâng cao giá trị kinh tế trên cùng một đơn vị mặt nước.

Nuôi cá lồng trên lòng hồ Thác Bà, tỉnh Lào Cai. Ảnh: THANH NGÀ

Nuôi cá lồng trên lòng hồ Thác Bà, tỉnh Lào Cai. Ảnh: THANH NGÀ

Thực tế cho thấy, nhiều địa phương đã bước đầu khai thác lợi thế này, như tại hồ Thác Bà (Lào Cai), mô hình nuôi cá lồng đã hình thành với hàng chục nghìn lồng nuôi; tỉnh Tuyên Quang có diện tích mặt nước hơn 18.600ha, trong đó hồ thủy điện là 13.143ha, nhiều người dân đã làm giàu từ nghề nuôi cá lồng trên lòng hồ... Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đã phê duyệt Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa giai đoạn 2026-2030, đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt sản lượng hơn 260.000 tấn/năm, tạo việc làm cho khoảng 80.000 lao động. Đây là bước đi mang tính chiến lược nhằm “đánh thức” tiềm năng mặt nước nội địa.

Dù sở hữu tiềm năng lớn, song thực tế cho thấy việc phát triển nuôi trồng thủy sản trên hồ chứa ở nước ta vẫn chưa tương xứng. Một trong những nguyên nhân lớn nhất là sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ, mang tính tự phát. Đồng chí Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư cho biết, phần lớn hoạt động nuôi trồng hiện nay do các hộ cá thể thực hiện, thiếu liên kết chuỗi, dẫn tới năng suất và hiệu quả thấp. Không ít khu vực vẫn nuôi theo kinh nghiệm, chưa áp dụng quy trình kỹ thuật tiên tiến, khiến sản phẩm khó cạnh tranh trên thị trường. Hạ tầng cũng là “nút thắt” lớn. Nhiều hồ chứa nằm ở địa bàn giao thông khó khăn, thiếu bến cá, thiếu dịch vụ hậu cần... Điều này làm tăng chi phí sản xuất, giảm khả năng thu hút doanh nghiệp đầu tư.

Bên cạnh đó, hệ thống cung ứng giống, thức ăn, vật tư cũng chưa đồng bộ. Nhiều nơi chưa chủ động được nguồn giống chất lượng, phải phụ thuộc vào bên ngoài, dẫn tới rủi ro về dịch bệnh và chất lượng sản phẩm. Ngoài ra, công tác quản lý còn chồng chéo. Việc sử dụng mặt nước hồ chứa liên quan đến nhiều ngành như thủy lợi, thủy điện, môi trường và thủy sản, nhưng cơ chế phối hợp chưa rõ ràng. Quy hoạch phân vùng nuôi còn thiếu, chưa đánh giá đầy đủ sức tải môi trường, dẫn tới nguy cơ ô nhiễm nếu phát triển ồ ạt.

Hướng tới phát triển bền vững, đa giá trị

Để khai thác hiệu quả tiềm năng nuôi trồng thủy sản từ mặt nước hồ chứa, TS Phùng Đức Tiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, cần một cách tiếp cận tổng thể, đồng bộ, từ thể chế, hạ tầng đến khoa học-công nghệ và tổ chức sản xuất. Trước hết, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách và quy hoạch. Việc xây dựng bộ tiêu chí, phân vùng nuôi, xác định sức tải môi trường là điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững, tránh tình trạng nuôi trồng tự phát gây ô nhiễm. Cùng với đó, cần thúc đẩy chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn, hình thành các tổ hợp tác, hợp tác xã và liên kết chuỗi. Mục tiêu đến năm 2030 có hơn 50% cơ sở nuôi tham gia chuỗi liên kết là bước đi quan trọng để nâng cao giá trị sản phẩm.

Đặc biệt, theo TS Phùng Đức Tiến, ứng dụng khoa học-công nghệ là yếu tố then chốt. Việc phát triển các mô hình nuôi lồng công nghệ cao, sử dụng vật liệu thân thiện môi trường, ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý sẽ giúp nâng cao năng suất, giảm chi phí và kiểm soát rủi ro. Đồng thời, cần đầu tư hạ tầng đồng bộ, từ giao thông, điện, nước đến bến cá, cơ sở chế biến. Đây là điều kiện để thu hút doanh nghiệp tham gia, tạo động lực phát triển sản xuất quy mô lớn.

Một hướng đi quan trọng là phát triển thị trường và xây dựng thương hiệu. Các sản phẩm thủy sản hồ chứa cần được chuẩn hóa theo các tiêu chuẩn như VietGAP gắn với chỉ dẫn địa lý, truy xuất nguồn gốc, từ đó nâng cao giá trị và khả năng cạnh tranh. Đặc biệt, cần chú trọng phát triển sinh kế cho người dân ven hồ, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số. Việc kết hợp nuôi trồng thủy sản với du lịch sinh thái, dịch vụ trải nghiệm sẽ tạo ra mô hình “kinh tế hồ chứa” đa giá trị, vừa tăng thu nhập, vừa bảo vệ môi trường. Theo định hướng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa phải bảo đảm hài hòa với các mục tiêu sử dụng nước khác, gắn với bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Đây không chỉ là bài toán kinh tế mà còn là bài toán quản lý tài nguyên tổng hợp.

Từ tiềm năng đến hiện thực là một chặng đường dài, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, ngành, địa phương và doanh nghiệp. Khi những “điểm nghẽn” được tháo gỡ, hệ thống hồ chứa sẽ không chỉ là nguồn nước dự trữ mà còn trở thành động lực tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển bền vững ngành thủy sản Việt Nam.

NGUYỄN HỒNG SÁNG

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/kinh-te/cac-van-de/phat-trien-nuoi-trong-thuy-san-tu-mat-nuoc-ho-chua-1040823