Phát triển sinh kế, nâng cao giá trị nông sản
Chuyển đổi phương thức sản xuất, phát huy lợi thế nông sản bản địa và phát triển các sản phẩm OCOP đang tạo thêm động lực cho kinh tế nông thôn. Những chuyển biến này góp phần tạo nền tảng thực hiện các mục tiêu xây dựng nông thôn mới hiện đại, bền vững trong giai đoạn 2026–2030.
Khai thác lợi thế bản địa, phát triển sinh kế bền vững
Trong quá trình thực hiện CTMTQG xây dựng nông thôn mới, phát triển sản xuất, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân luôn được xác định là những nhiệm vụ trọng tâm. Bên cạnh đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các địa phương chú trọng khai thác lợi thế nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển các mô hình sinh kế phù hợp và thúc đẩy liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị.
Theo đó, sản xuất nông nghiệp tại nhiều vùng nông thôn đang chuyển dịch theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng. Kết quả 9 tháng năm 2026 cho thấy sự phát triển ở nhiều lĩnh vực. Theo số liệu từ Cục Thống kê, sản lượng chè búp cả nước đạt 990.100 tấn, tăng 5,1% so với cùng kỳ; dừa đạt gần 2,1 triệu tấn, tăng 6,6%; sầu riêng đạt hơn 1,3 triệu tấn, tăng 13,8%. Trong chăn nuôi, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 4,28 triệu tấn, tăng 4,4%; thịt gia cầm đạt 2,02 triệu tấn, tăng 5,3%. Sản lượng thủy sản đạt gần 7,9 triệu tấn, tăng 3,9%, trong khi sản lượng gỗ khai thác đạt 18,9 triệu m³, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước.
Ở các địa phương, giá trị nông sản đã giúp nâng cao thu nhập cho người dân. Tại Thái Nguyên, theo số liệu công bố tháng 9/2026, toàn tỉnh có 22.268 ha chè, sản lượng chè búp tươi 9 tháng ước đạt gần 240.000 tấn. Trên 30% diện tích chè được chứng nhận sản xuất theo tiêu chuẩn GAP, hữu cơ; toàn tỉnh có 204 sản phẩm chè và trà đạt OCOP từ 3 đến 5 sao, trong đó 6 sản phẩm đạt 5 sao. Giá trị sản phẩm từ cây chè đến hết tháng 8/2026 ước đạt trên 13.650 tỷ đồng, tương đương 81,3% kế hoạch năm.
Trong khi đó, tại xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng), việc phát triển cây ca cao trồng xen trong các vườn điều già cỗi đang mở thêm hướng sản xuất cho người dân. Theo thông tin công bố tháng 4/2026, toàn xã có hơn 14 ha ca cao, chủ yếu được trồng trên diện tích đất canh tác hiện có. Bên cạnh thu hoạch quả, một số hộ đã chú trọng khâu sơ chế, lên men hạt nhằm nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm.

Nông dân Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng thu hoạch quả ca cao. Ảnh: Thu Hiền
Từ các vùng sản xuất lớn đến những hộ gia đình, phát triển sinh kế đang ngày càng gắn với việc khai thác lợi thế bản địa, tổ chức sản xuất phù hợp và nâng cao giá trị sau thu hoạch. Đây cũng là hướng đi cần được tiếp tục thúc đẩy trong thực hiện CTMTQG giai đoạn 2026–2030, khi mục tiêu nâng cao thu nhập đòi hỏi những chuyển biến thực chất về hiệu quả sản xuất và khả năng tiêu thụ nông sản.
OCOP tạo động lực phát triển kinh tế nông thôn
Cùng với phát triển vùng nguyên liệu và tổ chức lại sản xuất, Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) tiếp tục khẳng định vai trò trong khai thác tiềm năng, lợi thế của từng địa phương, nâng cao giá trị nông sản và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn.

Cây chè được xác định là một trong những cây trồng chủ lực giúp phát triển sinh kế, nâng cao thu nhập và giảm nghèo tại huyện Bảo Thắng (Lào Cai). Ảnh: Thu Hiền
Tính đến hết tháng 6/2026, cả nước có 21.028 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, với hơn 10.600 chủ thể tham gia. Sản phẩm OCOP ngày càng đa dạng, từ nông sản, thực phẩm chế biến, đồ uống, dược liệu đến hàng thủ công mỹ nghệ và dịch vụ du lịch cộng đồng. Hiệu quả kinh tế của chương trình được ghi nhận qua những thay đổi về doanh thu và giá bán. Theo kết quả đánh giá giai đoạn trước, doanh thu của các chủ thể sau khi có sản phẩm được công nhận OCOP tăng bình quân 17,6%/năm; 55,6% sản phẩm ghi nhận mức tăng giá bán, bình quân khoảng 12,2%. Chương trình còn góp phần tạo thêm việc làm, khuyến khích các cơ sở sản xuất đầu tư công nghệ chế biến, cải tiến mẫu mã, bao bì và ứng dụng thương mại điện tử để mở rộng thị trường.
Đáng chú ý, năm 2026, việc phát triển OCOP tiếp tục được định hướng theo yêu cầu nâng cao chất lượng và tính bền vững. Quyết định số 26/2026/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí và quy trình đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP mới, trong đó chú trọng tổ chức sản xuất, phát triển sản phẩm, sức mạnh cộng đồng, khả năng tiếp thị và câu chuyện sản phẩm.
Thực tế cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục tháo gỡ những khó khăn về quy mô sản xuất, vốn, công nghệ, năng lực quản trị và thị trường tiêu thụ. Đối với nhiều cơ sở sản xuất nhỏ, việc duy trì chất lượng, bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định và mở rộng hệ thống phân phối sau khi được công nhận OCOP vẫn là thách thức. Vì vậy, phát triển OCOP cần gắn chặt hơn với quy hoạch vùng nguyên liệu, liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ, đồng thời hỗ trợ các chủ thể nâng cao năng lực kinh doanh.
Những yêu cầu này có mối liên hệ trực tiếp với mục tiêu phát triển kinh tế nông thôn trong CTMTQG giai đoạn 2026–2030. Theo định hướng chương trình, đến năm 2030, thu nhập bình quân của người dân nông thôn phấn đấu tăng gấp 2,5–3 lần so với năm 2020; khoảng 65% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó khoảng 10% số xã đạt nông thôn mới hiện đại. Để hiện thực hóa các mục tiêu đó, phát triển sản xuất cần được đặt trong mối quan hệ với tạo việc làm, nâng cao thu nhập và giảm nghèo bền vững. Việc sử dụng nguồn lực hỗ trợ cũng cần hướng tới những mô hình có khả năng duy trì hoạt động, tạo thu nhập ổn định và có điều kiện nhân rộng.
Phát triển kinh tế nông thôn trong giai đoạn mới vì thế cần được đánh giá bằng hiệu quả thực tế của từng mô hình sản xuất và khả năng gia tăng giá trị nông sản. Khi vùng nguyên liệu được tổ chức tốt, sản phẩm có thương hiệu và thị trường tiêu thụ ổn định, người dân sẽ có thêm điều kiện nâng cao thu nhập, phát triển kinh tế ngay tại quê hương./.
Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/phat-trien-sinh-ke-nang-cao-gia-tri-nong-san
