Phó Chủ tịch VNBA nói về việc huy động nguồn lực 1 triệu tỷ đồng bị 'đóng băng'
Theo TS. Nguyễn Quốc Hùng, tín dụng tăng tới 19% nhưng GDP chỉ đạt 8% trong khi đó khoảng 1 triệu tỷ đồng nợ xấu và dự tồn đọng vẫn 'đóng băng', nếu không có giải pháp quyết liệt thì nguồn lực lớn sẽ bị lãng phí.
Sáng 31/3, chia sẻ tại Hội thảo "Động lực cho tăng trưởng kinh tế 2 con số: Cơ hội cho nông nghiệp nông thôn, cần nguồn đầu tư lớn", TS. Nguyễn Quốc Hùng - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) nhìn nhận, thực trạng hiện nay cho thấy tăng trưởng kinh tế vẫn dựa chủ yếu vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng và vốn đầu tư công.
Ông Hùng chỉ ra nghịch lý đáng suy ngẫm: dư nợ tín dụng tăng trưởng khoảng 19% nhưng tốc độ tăng trưởng GDP chỉ đạt mức 8%. Trong khi đó, thị trường vốn dù đã hình thành và phát triển hàng chục năm nhưng vẫn chưa thực sự bền vững, chưa tạo đủ niềm tin để nhà đầu tư tham gia sâu rộng, dẫn đến việc chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của nền kinh tế.
Một bài toán nan giải khác chính là "cục máu đông" nợ xấu và các dự án tồn đọng. Hiện nay, có khoảng 1 triệu tỷ đồng nợ xấu (bao gồm nợ nội bảng, nợ tại VAMC) và nợ tiềm ẩn rủi ro từ thị trường bất động sản chưa được giải tỏa.
"Nếu chúng ta không có những chính sách quyết liệt để tháo gỡ các dự án vướng mắc và khơi thông dòng vốn đang bị đóng băng này, thì quốc gia sẽ mất đi một nguồn lực đầu tư khổng lồ. Bên cạnh đó, chính sách tiền tệ cần phải được điều hành hết sức linh hoạt để hỗ trợ hiệu quả cho các hoạt động kinh tế thực chất", ông Hùng nói.

TS. Nguyễn Quốc Hùng - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA).
Đối với nông nghiệp và nông thôn, ông Hùng nhấn mạnh đây là lĩnh vực tiềm năng còn rất lớn. Các sản phẩm nông sản Việt Nam đã xuất hiện tại khắp các trung tâm thương mại lớn, nhưng đầu tư vào lĩnh vực này hiện mới chỉ chiếm khoảng 11% tổng dư nợ tín dụng - chưa bằng một nửa so với mức tăng trưởng vốn vào bất động sản (25%).
"Câu hỏi đặt ra là tại sao chúng ta chưa thể đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ để nâng cao giá trị xuất khẩu? Nút thắt chính nằm ở việc người dân và doanh nghiệp nông nghiệp thiếu tài sản đảm bảo", ông Hùng nói và cho rằng, dù ngành ngân hàng đã có những bước đổi mới mạnh mẽ trong chiến lược tài chính toàn diện, đưa vốn về tận cơ sở, nhưng khả năng tiếp cận vẫn bị hạn chế bởi các quy định về tài sản thế chấp truyền thống.
Để giải quyết vấn đề này, ông Hùng cho biết Ngân hàng Nhà nước hiện đang chú trọng cải thiện các nghiệp vụ thanh toán để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) trong việc cung ứng nguyên liệu xuất khẩu mà không quá phụ thuộc vào vốn tự có. Dù vậy, cũng cần khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài chuyển vốn trực tiếp cho doanh nghiệp trong nước để sản xuất hàng xuất khẩu.
Bên cạnh đó, các chính sách ưu đãi cho nông nghiệp cần phải cụ thể và thực chất hơn, đặc biệt là đầu tư vào hệ thống các Viện nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo để tránh tình trạng sáp nhập hình thức làm mai một năng lực nghiên cứu. Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có kiến thức thực tế để vận hành nông nghiệp hiện đại cũng là nhiệm vụ cấp bách.
"Thay vì quá tập trung vào phát triển bất động sản để tận dụng tài nguyên đất đai một cách ngắn hạn, chúng ta nên hướng nguồn lực vào việc khai thác bền vững các thế mạnh về tài nguyên khoáng sản, kinh tế biển và nông nghiệp công nghệ cao", ông Hùng nói thêm.
Theo ông Hùng, Ngân hàng Nhà nước đang tập trung nguồn lực rất lớn vào sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực thủy sản và xuất khẩu chủ lực. Ông cũng kỳ vọng những định hướng này của Đảng và Nhà nước sẽ được thực hiện đồng bộ, góp phần quan trọng vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong tương lai, đưa nông nghiệp thực sự trở thành bệ đỡ vững chắc cho nền kinh tế quốc gia.

TS Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách của Thủ tướng Chính phủ phát biểu.
Trong khi đó, TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách của Thủ tướng Chính phủ, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cho rằng, để đối phó với những bất định ngắn hạn và hướng tới tầm nhìn tăng trưởng dài hạn, Việt Nam cần tập trung vào 4 nhóm chính sách lõi.
Thứ nhất, ứng xử linh hoạt với thế giới: Chủ động và linh hoạt trong ngoại giao kinh tế, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến năng lượng (giá dầu) và định vị lợi thế trước các nhà đầu tư quốc tế.
Thứ hai, ổn định kinh tế vĩ mô: Ưu tiên hàng đầu cho việc quản trị rủi ro, kiểm soát lạm phát, tỷ giá và mặt bằng lãi suất.
Thứ ba, hỗ trợ thị trường và doanh nghiệp: Triển khai các gói kích cầu, trợ lực kịp thời để cộng đồng doanh nghiệp phục hồi sản xuất.
Thứ tư, đột phá thể chế: Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền tảng pháp lý đồng bộ (đặc biệt là các nghị quyết mới về FDI) để tạo môi trường kinh doanh minh bạch.
Ông Thành cho biết, dù thách thức bủa vây, nền kinh tế vẫn có những dư địa lớn nếu biết cách khơi thông như chuyển hóa dòng tiền tiết kiệm vào sản xuất.
"Lượng tiền gửi tiết kiệm và nguồn vốn nhàn rỗi trong dân (dưới dạng vàng, ngoại tệ...) đang rất lớn, trong khi tổng đầu tư toàn xã hội lại thấp. Cần có cơ chế điều hướng dòng tiền khổng lồ này, ước tính có thể lên tới hàng chục tỷ USD (khoảng 500.000 tỷ đồng) chảy vào khu vực sản xuất kinh doanh thay vì đầu cơ tích trữ", ông Thành nói thêm.
Bên cạnh đó là giải phóng các dự án "đắp chiếu". Theo ông Thành, việc gỡ vướng pháp lý, đẩy nhanh tiến độ cho 800 - 1.000 dự án lớn đang bị đình trệ sẽ trực tiếp bơm hàng trăm nghìn tỷ đồng vào nền kinh tế, tạo ra cú hích tăng trưởng mạnh mẽ trong ngắn hạn.












