PVPGB định hướng bảo đảm nguồn nhiên liệu ổn định cho các nhà máy điện

Tham dự hội thảo, về phía Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PETROVIETNAM) có ông Phan Tử Giang, Phó Tổng Giám đốc, cùng đại diện các ban chuyên môn, Văn phòng Tập đoàn. Về phía PVPGB có ông Nguyễn Minh Đạo, Giám đốc Chi nhánh; ông Nguyễn Xuân Hưng và bà Bùi Thị Thu Hương, Phó Giám đốc Chi nhánh; cùng lãnh đạo các đơn vị trực thuộc.

Ông Phan Tử Giang tham dự và trao đổi tại hội thảo.

Ông Phan Tử Giang tham dự và trao đổi tại hội thảo.

Hội thảo còn có sự tham gia của đại diện Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Công ty Mua bán điện (EVNEPTC), Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và các đối tác trong nước, quốc tế.

Phát biểu khai mạc, ông Nguyễn Minh Đạo cho biết, PVPGB đang xây dựng kế hoạch lựa chọn nhà thầu các gói mua than phục vụ vận hành thương mại Nhà máy Nhiệt điện (NMNĐ) Sông Hậu 1, đồng thời chuẩn bị nguồn nhiên liệu cho NMNĐ Long Phú 1 trong thời gian tới.

Theo ông Nguyễn Minh Đạo, thị trường than đang liên tục biến động về giá, chất lượng và khả năng cung ứng. Việc bảo đảm nguồn nhiên liệu đúng yêu cầu và ổn định đòi hỏi phải thường xuyên cập nhật diễn biến thị trường, xu hướng giao dịch cũng như đánh giá thực chất năng lực của từng nhà cung cấp.

Ông Nguyễn Minh Đạo phát biểu khai mạc hội thảo.

Ông Nguyễn Minh Đạo phát biểu khai mạc hội thảo.

“Một hợp đồng dài hạn chỉ bền khi cả bên mua và bên bán đều hiểu rõ nhu cầu và điều kiện của nhau. Sự hợp tác hiệu quả và bền vững chỉ có thể hình thành trên nền tảng minh bạch thông tin và thiện chí đồng hành”, ông Nguyễn Minh Đạo nhấn mạnh.

Các phiên chuyên đề và tọa đàm tập trung trao đổi về triển vọng thị trường than quốc tế và những thay đổi trong chuỗi cung ứng; chính sách quản lý khai thác, xuất khẩu than của Indonesia và khả năng cung cấp ổn định cho Việt Nam; khả năng tiếp cận trực tiếp các chủ mỏ, đa dạng hóa nguồn cung và tăng cường hợp tác dài hạn; vai trò của các doanh nghiệp thương mại và logistics trong việc kết nối nguồn than quốc tế với nhu cầu của PVPGB.

Các đại biểu tham gia tọa đàm, trao đổi với nhà cung cấp quốc tế về thực trạng và thách thức về nguồn cung.

Các đại biểu tham gia tọa đàm, trao đổi với nhà cung cấp quốc tế về thực trạng và thách thức về nguồn cung.

Từ thực tế vận hành, ông Nguyễn Văn Chính, Giám đốc NMNĐ Sông Hậu 1 cho biết, nhu cầu than của các nhà máy điện sẽ tiếp tục ở mức lớn trong bối cảnh phụ tải tăng và một số dự án nguồn điện có nguy cơ chậm tiến độ. Riêng Sông Hậu 1 hiện cần khoảng 3-3,5 triệu tấn than/năm. Theo kịch bản Long Phú 1 được giao PVPGB quản lý, vận hành từ năm 2028, nhu cầu than dự kiến khoảng 5 triệu tấn trong năm 2028 và tăng lên 6-7 triệu tấn/năm từ năm 2029.

Thực tế mua than cho NMNĐ Sông Hậu 1 cho thấy việc đáp ứng đồng thời các yêu cầu về chất lượng, khối lượng, giá cả và tiến độ giao hàng không phải lúc nào cũng thuận lợi. Trong đó, nhiệt trị, độ ẩm, hàm lượng tro, lưu huỳnh và chất bốc ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất lò hơi, mức tiêu hao nhiên liệu, chi phí bảo dưỡng và môi trường. Vì vậy, lựa chọn nguồn cung phải gắn với yêu cầu kỹ thuật, khả năng phối trộn và hiệu quả kinh tế tính trên tổng chi phí đưa than về đến nhà máy, thay vì chỉ căn cứ vào giá mua tại cảng xuất khẩu.

Ông Nguyễn Văn Chính trình bày tham luận về nhu cầu nhiên liệu phục vụ vận hành NMNĐ Sông Hậu 1 và NMNĐ Long Phú 1.

Ông Nguyễn Văn Chính trình bày tham luận về nhu cầu nhiên liệu phục vụ vận hành NMNĐ Sông Hậu 1 và NMNĐ Long Phú 1.

Theo ông Nguyễn Văn Chính, Indonesia tiếp tục là thị trường cung cấp than quan trọng, song PVPGB cần đa dạng hóa nguồn nhập khẩu để tăng tính chủ động, trong đó quan tâm mở rộng kết nối với Australia và các thị trường tiềm năng khác. Việc đánh giá đối tác cần xem xét đồng bộ nguồn mỏ, năng lực tài chính, khả năng vận chuyển và lịch sử thực hiện hợp đồng. Một phương án có giá thấp nhưng rủi ro cung ứng lớn chưa chắc hiệu quả hơn phương án có giá cao hơn nhưng bảo đảm tính liên tục.

Về phương thức mua, PVPGB định hướng chuyển dần từ giao dịch theo từng lô, từng năm sang xây dựng quan hệ hợp tác có kế hoạch và ổn định dài hạn. Theo đó, hợp đồng dài hạn tạo nền tảng về sản lượng, chất lượng và cơ chế giá; các kế hoạch cung ứng hằng năm được điều chỉnh theo nhu cầu thực tế, đồng thời duy trì một phần nguồn mua linh hoạt để tận dụng cơ hội thị trường. Than Indonesia có thể được xem xét trong cả hợp đồng dài hạn và hợp đồng theo năm; với than Australia, trước mắt có thể tiếp cận qua hợp đồng theo năm hoặc hợp đồng khung, sau đó đánh giá để phát triển thành nguồn cung dài hạn.

Các đại biểu tham dự hội thảo.

Các đại biểu tham dự hội thảo.

Ông Nguyễn Văn Chính cũng cho rằng, đối với các dự án mới, phương án cung ứng than cần được tính toán đồng bộ ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Cùng với đó là hoàn thiện cơ chế phối hợp, phân cấp, nâng cao năng lực dự báo, quản trị rủi ro và logistics; phát huy vai trò kết nối của PETROVIETNAM, đồng thời xây dựng mức tồn kho phù hợp với đặc điểm và rủi ro của từng nguồn cung. Mục tiêu đến năm 2028 là giảm sự phụ thuộc vào một thị trường hoặc số ít nhà cung cấp.

“Bảo đảm nguồn ổn định không chỉ là mua được những lô than trước mắt. Khi người mua có kế hoạch rõ ràng, người bán có năng lực và cam kết phù hợp, các bên cùng chia sẻ thông tin và phối hợp xử lý rủi ro, quan hệ cung ứng dài hạn mới có thể hình thành”, ông Nguyễn Văn Chính nhấn mạnh.

Tại hội thảo, ông Saurabh Chaturvefi, đại diện Argus Media nhận định thị trường than Việt Nam đang chịu áp lực từ nhu cầu điện trong nước tăng cao và những biến động của nguồn cung quốc tế. Trong bối cảnh rủi ro El Niño có thể kéo dài đến giữa năm 2027, nhu cầu huy động điện than và nhập khẩu than được dự báo tiếp tục ở mức cao trong mùa khô tới.

Ông Saurabh Chaturvefi kết nối trực tuyến trao đổi về trữ lượng, khả năng cung ứng, các vướng mắc pháp lý và logistics tại thị trường Indonesia.

Ông Saurabh Chaturvefi kết nối trực tuyến trao đổi về trữ lượng, khả năng cung ứng, các vướng mắc pháp lý và logistics tại thị trường Indonesia.

Theo dự báo của Argus Media, Việt Nam có thể nhập khẩu khoảng 58,9 triệu tấn than trong năm 2026, tăng thêm 7,7 triệu tấn so với dự báo trước đó.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra không chỉ là khối lượng than cần nhập khẩu mà còn là khả năng bảo đảm nguồn cung và kiểm soát chi phí. Indonesia và Australia vẫn là hai nguồn cung chủ lực, song chính sách kiểm soát sản lượng tại Indonesia, biến động giá LNG, thời tiết và nhu cầu từ các thị trường lớn như Trung Quốc, Ấn Độ có thể tác động đến giá và nguồn hàng.

Việc đa dạng hóa nguồn cung sang Nga, Nam Phi hoặc các thị trường xa hơn như Colombia, Mỹ được xem là những phương án cần nghiên cứu, song cũng đặt ra các vấn đề về logistics, chất lượng, chi phí vận tải và rủi ro thương mại.

Trong bối cảnh đó, việc kết hợp giữa hợp đồng dài hạn và thị trường giao ngay, mở rộng khả năng phối trộn phù hợp với điều kiện kỹ thuật, cùng với xây dựng các tham chiếu giá giao tại Việt Nam sẽ là những nội dung quan trọng trong bài toán bảo đảm nhiên liệu cho các nhà máy nhiệt điện của PETROVIETNAM.

Nguyễn Hiển

Nguồn PetroTimes: https://petrovietnam.petrotimes.vn/pvpgb-dinh-huong-bao-dam-nguon-nhien-lieu-on-dinh-cho-cac-nha-may-dien-747619.html