Quản lý thuế kinh doanh du lịch trên nền tảng số: Cần chuẩn hóa dữ liệu, hoàn thiện chính sách
Khung pháp lý mới tạo cơ sở quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh qua nền tảng số, nhưng việc nhận diện người kinh doanh, đối chiếu doanh thu và xác định nghĩa vụ thuế vẫn đặt ra nhiều vấn đề. Các chuyên gia đề xuất chuẩn hóa dữ liệu, làm rõ trách nhiệm của nền tảng và hoàn thiện chính sách theo bản chất hoạt động kinh doanh.
Khoảng trống quản lý từ dữ liệu và giao dịch
Chia sẻ tại Hội thảo khoa học “Tác động của kinh tế chia sẻ đối với quản trị và phát triển du lịch bền vững”, do Học viện Hành chính và Quản trị công tổ chức sáng 22/10, TS. Hà Khắc Minh, Tổng Biên tập Tạp chí Tài chính doanh nghiệp cho biết, Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 quy định cơ chế khai thuế, tính thuế và khấu trừ thuế đối với hộ, cá nhân kinh doanh.
Đối với hoạt động trên nền tảng thương mại điện tử hoặc nền tảng số khác, khi nền tảng có chức năng đặt hàng trực tuyến và thanh toán, chủ quản nền tảng trong nước hoặc nước ngoài có trách nhiệm khấu trừ, khai thay và nộp thay số thuế đã khấu trừ theo quy định. Trường hợp nền tảng không có các chức năng này, hộ, cá nhân kinh doanh trực tiếp khai thuế, tính thuế và nộp thuế.
Theo ông Minh, cơ chế khấu trừ, khai thay và nộp thay có thể giảm khoảng trống thông tin. Quy định về kê khai, tính thuế và hóa đơn điện tử cũng hỗ trợ chuyển từ quản lý hồ sơ giấy sang quản lý dựa trên dữ liệu.
Tuy nhiên, hiệu quả thực tế vẫn phụ thuộc khả năng nhận diện người kinh doanh, chất lượng dữ liệu và phối hợp giữa các bên. Nền tảng có thể dùng định dạng khác nhau; khoản thanh toán gồm phí, hoàn trả hoặc ưu đãi. Thiếu chuẩn dữ liệu chung sẽ làm khó việc đối chiếu doanh thu kê khai, dữ liệu nền tảng và hóa đơn.

(Ảnh minh họa)
Khấu trừ, khai thay và nộp thay cũng không đồng nghĩa mọi nghĩa vụ của người cung cấp dịch vụ chuyển sang nền tảng. Vì vậy, cần làm rõ trách nhiệm từng bên và cách xử lý giao dịch hủy, hoàn tiền hoặc có nhiều bên trung gian.
Ở góc độ chính sách thuế TNCN, TS.Phạm Thị Thanh Hương, Khoa Kinh tế, Học viện Hành chính và Quản trị công cho rằng, ranh giới giữa các loại hình hoạt động kinh doanh trên nền tảng chưa được thể hiện thật rõ trong chính sách. Hoạt động lưu trú, vận chuyển, hướng dẫn, tổ chức trải nghiệm hay cung cấp dịch vụ kết hợp có phương thức tạo doanh thu và mức độ tham gia khác nhau.
Một cá nhân có thể chỉ cung cấp dịch vụ không thường xuyên, nhưng cũng có thể khai thác nền tảng với quy mô tương đối lớn. Sự đa dạng này đặt ra yêu cầu chính sách phải nhận diện được bản chất và quy mô hoạt động để áp dụng nghĩa vụ thuế phù hợp.
Bà Hương cũng cho rằng tính trung lập giữa các kênh cung cấp dịch vụ cần được củng cố. Cùng một loại dịch vụ du lịch, cá nhân có thể giao dịch trực tiếp với khách hàng hoặc thông qua nền tảng, nhưng cách thức ghi nhận doanh thu, khấu trừ và cung cấp thông tin có thể khác nhau. Nếu mức độ quản lý và chi phí tuân thủ có sự chênh lệch đáng kể, chính sách có thể tạo ra sự khác biệt về nghĩa vụ thực hiện giữa những chủ thể có bản chất hoạt động tương tự.
Bên cạnh đó, một cá nhân có thể đồng thời cung cấp dịch vụ trên nhiều nền tảng, trong khi dữ liệu khác nhau về cấu trúc, thời điểm ghi nhận và phương thức thanh toán. Các giao dịch đặt trước, thay đổi, hủy hoặc hoàn tiền cũng khiến giá trị giao dịch ban đầu không phải lúc nào phản ánh doanh thu thực tế.
Đối với giao dịch xuyên biên giới, khả năng tiếp cận và kiểm chứng thông tin của cơ quan thuế phụ thuộc nhiều hơn vào cơ chế phối hợp và trao đổi thông tin. Trong khi đó, thủ tục quá phức tạp so với quy mô hoạt động có thể làm tăng chi phí tuân thủ của cá nhân kinh doanh nhỏ.
Nhanh chóng ban hành ưu đãi thuế và tiền thuê đất
Để nâng cao hiệu quả quản lý thuế, TS Hà Khắc Minh cho rằng cần xây dựng hướng dẫn thống nhất cho những tình huống phổ biến như cho thuê một phòng hoặc nhiều căn hộ, sử dụng nhiều nền tảng, nhận thanh toán trực tiếp và qua nền tảng, khách hủy đặt chỗ, hoàn tiền hoặc doanh thu vượt ngưỡng trong năm. Cần làm rõ căn cứ xác định doanh thu, cách tổng hợp giao dịch, trách nhiệm các bên và yêu cầu hóa đơn điện tử.
Một số dự thảo có nhiều ưu đãi thuế cho phát triển du lịch cần nhanh chóng được ban hành và áp dụng vào thực tế. Cụ thể, dự thảo Nghị quyết của Quốc hội do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng đề xuất giảm tối thiểu 50% tiền thuê đất trong 3 năm đầu; miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 3 năm tiếp theo đối với thu nhập từ sản phẩm mà mô hình kinh doanh du lịch mới tạo ra.

(Ảnh minh họa)
Theo ông Minh, cần xây dựng chuẩn dữ liệu tối thiểu đối với giao dịch du lịch qua nền tảng, gồm thông tin định danh người cung cấp, mã số thuế, mã cơ sở kinh doanh, mã đặt chỗ, giá dịch vụ, thời gian cung cấp, phí nền tảng, khoản hoàn trả và số tiền thanh toán. Việc kết nối dữ liệu phải có căn cứ pháp lý, phân quyền truy cập, lưu vết khai thác và bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Hiện nay, cơ quan Thuế đã kết nối với Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại, đồng thời khai thác thông tin từ sàn thương mại điện tử, đơn vị trung gian thanh toán, phần mềm kế toán, bán hàng và vận chuyển. Dữ liệu hóa đơn điện tử giúp cơ quan thuế đối chiếu với dòng tiền của người nộp thuế để xác định nghĩa vụ thuế thực tế và phân tích rủi ro.
Ông Minh cũng đề xuất làm rõ trách nhiệm của nền tảng trong khấu trừ, khai thay và nộp thay dựa trên chức năng thực tế; cung cấp bảng kê điện tử thể hiện giá dịch vụ, phí, hoàn trả và số thuế đã khấu trừ, nộp thay để người kinh doanh đối chiếu. Đồng thời, cần hướng dẫn áp dụng hóa đơn điện tử, hỗ trợ giải pháp phần mềm chi phí hợp lý cho hộ nhỏ lẻ và bảo đảm quyền giải trình của người nộp thuế khi có chênh lệch dữ liệu.
Ở góc độ hoàn thiện chính sách thuế TNCN, bà Hương cho rằng cần chuyển từ cách nhận diện dựa nhiều vào hình thức giao dịch sang nhận diện theo bản chất và quy mô của hoạt động tạo thu nhập. Đối với các hoạt động có bản chất kinh tế tương đồng như lưu trú ngắn hạn, vận chuyển, hướng dẫn, tổ chức trải nghiệm hoặc dịch vụ kết hợp, cần xây dựng nguyên tắc xác định đối tượng và thu nhập chịu thuế thống nhất hơn giữa các kênh cung cấp dịch vụ.
Phạm vi hoạt động kinh doanh cần được hướng dẫn theo những dấu hiệu phản ánh thực chất hoạt động tạo thu nhập, như mức độ thường xuyên, mục đích tạo thu nhập, cách thức tổ chức và phương thức cung cấp dịch vụ. Với trường hợp cá nhân cung cấp đồng thời nhiều dịch vụ trong một giao dịch, cần làm rõ việc xác định hoạt động chính hoặc phân bổ doanh thu giữa các loại dịch vụ.
Về phương pháp tính thuế, bà Hương đề xuất cân bằng giữa khả năng phản ánh đúng thu nhập và yêu cầu đơn giản hóa tuân thủ. Đối với cá nhân kinh doanh quy mô nhỏ, phương pháp đơn giản, dễ hiểu và có chi phí tuân thủ thấp vẫn cần được duy trì. Với hoạt động quy mô lớn hoặc có dữ liệu giao dịch tương đối đầy đủ, có thể tăng cường sử dụng doanh thu thực tế và thông tin giao dịch làm căn cứ quản lý. Đặc điểm mùa vụ của kinh doanh du lịch cũng cần được tính đến khi thiết kế nghĩa vụ thuế.
Đối với cơ chế khấu trừ, khai và nộp thuế, bà Hương cho rằng cần phân định trách nhiệm phù hợp với khả năng kiểm soát giao dịch của từng chủ thể. Nền tảng có khả năng kiểm soát giao dịch và dòng tiền có thể thực hiện khấu trừ, khai và nộp thuế thay theo phạm vi pháp luật cho phép. Với nền tảng chủ yếu thực hiện chức năng kết nối mà không trực tiếp kiểm soát dòng tiền, trọng tâm trách nhiệm nên là cung cấp đầy đủ, chính xác và kịp thời thông tin giao dịch phục vụ quản lý thuế.
Khi nền tảng đã thực hiện khấu trừ, khai hoặc nộp thuế thay, cá nhân cần được cung cấp thông tin về doanh thu, số thuế đã khấu trừ, số tiền thực nhận và chứng từ điện tử để kiểm tra nghĩa vụ của mình. Những thông tin nền tảng đã cung cấp và cơ quan thuế có thể xác định đáng tin cậy thì không nên tiếp tục yêu cầu cá nhân kê khai lại, trừ trường hợp cần bổ sung, đối chiếu hoặc điều chỉnh.
Bà Hương đồng thời đề xuất chuẩn hóa dữ liệu về người kinh doanh, loại hình dịch vụ, thời điểm và giá trị giao dịch, tình trạng thanh toán, giao dịch hủy hoặc hoàn tiền và số thuế đã khấu trừ, nộp thay. Kết nối thông tin theo mã số thuế hoặc thông tin định danh thống nhất sẽ tạo cơ sở tổng hợp dữ liệu từ nhiều nền tảng, xác định đầy đủ hơn doanh thu của từng cá nhân và hỗ trợ cơ quan thuế tập trung xác minh những trường hợp có chênh lệch đáng kể giữa doanh thu kê khai và dữ liệu giao dịch.
“Cần hình thành một quy trình chuẩn hóa dữ liệu – kết nối theo người kinh doanh – đối chiếu giữa các nguồn – phân tích rủi ro – bảo đảm an toàn thông tin. Đây là cơ sở để nâng cao hiệu quả quản lý mà không chuyển toàn bộ chi phí quản lý sang cho cá nhân kinh doanh”, bà Hương nêu rõ.
