Quảng Ninh đặt chuẩn xanh cho chu kỳ tăng trưởng mới
Quảng Ninh đang đưa các tiêu chuẩn môi trường vào quy hoạch, sản xuất và thu hút đầu tư, từng bước định hình mô hình tăng trưởng xanh cho giai đoạn phát triển mới.
Đặt chuẩn xanh cho một không gian phát triển mới
Than, cảng biển, công nghiệp, du lịch và hệ sinh thái di sản cùng hiện diện trên địa bàn Quảng Ninh, tạo nên một nền kinh tế có nhiều động lực tăng trưởng. Cấu trúc ấy cũng khiến địa phương phải giải quyết đồng thời những yêu cầu khác nhau về khai thác tài nguyên, tổ chức sản xuất, bảo vệ môi trường và duy trì giá trị của các hệ sinh thái tự nhiên.
Trong nhiều năm, khai thác than giữ vai trò quan trọng đối với kinh tế Quảng Ninh. Hoạt động của các mỏ, nhà máy và hệ thống vận chuyển đóng góp vào việc làm, nguồn thu ngân sách và năng lực sản xuất của địa phương. Trong khi đó, vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long, những cánh rừng và vùng biển đảo tạo nên nguồn vốn tự nhiên có giá trị lâu dài đối với du lịch, dịch vụ và sinh kế cộng đồng.
Hai nền tảng kinh tế này đặt ra yêu cầu về một mô hình tăng trưởng có khả năng sử dụng hiệu quả tài nguyên, hạn chế chi phí môi trường và duy trì những lợi thế tự nhiên của địa phương.

Than, cảng biển, công nghiệp, du lịch và hệ sinh thái di sản cùng hiện diện trên địa bàn Quảng Ninh. Ảnh: Hoàng Anh
Yêu cầu ấy càng trở nên rõ nét khi Quảng Ninh chính thức trở thành thành phố trực thuộc Trung ương từ ngày 1/9/2026. Trước đó, ngày 23/6/2026, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075. Quy hoạch tổ chức toàn bộ địa bàn thành một không gian phát triển thống nhất, liên kết các khu vực đô thị, công nghiệp, kinh tế cửa khẩu, du lịch và nông thôn.
Không gian phát triển mở rộng đồng nghĩa với áp lực lớn hơn lên công tác quản lý môi trường. Một khu công nghiệp mới, một tuyến giao thông hay một dự án đô thị đều có thể tạo ra tác động kéo dài đến sử dụng đất, nguồn nước, chất lượng không khí và hệ sinh thái. Nếu các quyết định đầu tư chỉ được xem xét theo hiệu quả kinh tế riêng lẻ, chi phí môi trường có nguy cơ tích lũy theo quy mô phát triển.
Trong định hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Quảng Ninh đặt mục tiêu đưa kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và kinh tế các bon thấp trở thành những động lực tăng trưởng chủ đạo. Thành phố hướng tới tỷ lệ che phủ rừng trên 50%, dành tối thiểu 2% tổng chi ngân sách hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường, đồng thời phấn đấu để tỷ trọng kinh tế xanh trong GRDP đạt 10% hoặc đạt, vượt chỉ tiêu được giao.
Các mục tiêu này đặt ra những yêu cầu cụ thể hơn đối với quản trị phát triển. Ngân sách môi trường cần đi cùng hiệu quả của các chương trình bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái. Tỷ lệ che phủ rừng cần được xem xét cùng chất lượng rừng, khả năng giữ nước và bảo tồn đa dạng sinh học. Tỷ trọng kinh tế xanh cũng cần có phương pháp tính thống nhất, số liệu nền và cơ chế cập nhật để phản ánh đúng sự thay đổi trong cơ cấu tạo ra giá trị của nền kinh tế.
Đặc biệt, định hướng kiểm soát các nguồn phát sinh nước thải, khí thải lớn và hạn chế công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều tài nguyên có ý nghĩa trực tiếp đối với quyết định đầu tư. Khi yêu cầu môi trường được đưa vào quá trình thẩm định dự án, tiêu chuẩn xanh bắt đầu tác động đến việc lựa chọn công nghệ, phương thức vận hành và hiệu quả sử dụng đất, năng lượng, nước của doanh nghiệp.
Đó là bước chuyển quan trọng từ xác lập mục tiêu môi trường sang hình thành những điều kiện cụ thể cho tăng trưởng. Chuẩn xanh cần hiện diện trong cả quy hoạch không gian, phân bổ ngân sách và hoạt động sản xuất, thay vì chỉ được đánh giá qua kết quả xử lý ô nhiễm sau khi phát sinh.

Xử lý nước thải tại khu công nghiệp Texhong Hải Hà. Ảnh: Quang Ninh Media
Nâng cao giá trị tăng trưởng
Quá trình xanh hóa tại Quảng Ninh gắn chặt với yêu cầu nâng cao chất lượng cơ cấu kinh tế. Sau nhiều năm dựa đáng kể vào khai thác tài nguyên, địa phương đang thúc đẩy công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ, logistics và du lịch. Hướng đi này mở thêm dư địa tăng trưởng, đồng thời đặt ra yêu cầu kiểm soát tốt hơn mức tiêu hao năng lượng, nguyên liệu và tác động môi trường của từng ngành.
Giai đoạn 2021 - 2025, GRDP Quảng Ninh tăng bình quân khoảng 9,7% mỗi năm. Tỷ trọng dịch vụ tăng từ 30,99% lên 37,8%, trong khi tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng từ 11,35% lên 13,2%. Trong chín tháng năm 2026, GRDP của địa phương tăng 12,54%, riêng quý III tăng 15,04%.
Đà tăng trưởng tạo thêm nguồn lực cho đầu tư hạ tầng và các chương trình môi trường. Tuy nhiên, việc mở rộng công nghiệp chế biến, chế tạo chỉ thực sự đóng góp vào chuyển đổi xanh khi đi kèm cải thiện năng suất, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải và nâng cao giá trị sản phẩm. Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu ngành là những chỉ báo quan trọng, song chưa đủ để phản ánh mức độ sử dụng tài nguyên hiệu quả của nền kinh tế.
Trong ngành than, một số doanh nghiệp đã đầu tư thay đổi phương thức khai thác và vận chuyển nhằm giảm tác động đến môi trường. Công ty CP Than Núi Béo chuyển sang khai thác hoàn toàn bằng phương pháp hầm lò từ năm 2019, đồng thời thực hiện hoàn thổ và trồng cây tại những khu vực kết thúc khai thác lộ thiên. Công ty Tuyển than Hòn Gai đầu tư hệ thống băng tải dài hơn 8,85km, tổng vốn trên 760 tỷ đồng, nhằm giảm vận chuyển than bằng ô tô và hạn chế bụi phát sinh.
Những thay đổi này cho thấy chuyển đổi công nghệ có thể đồng thời phục vụ yêu cầu vận hành và kiểm soát môi trường. Dù vậy, hiệu quả xanh hóa ngành than còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, từ quản lý nước thải, bụi, chất thải khai thác đến phục hồi môi trường sau khai thác. Công nghệ mới cần đi cùng quy trình giám sát và trách nhiệm môi trường xuyên suốt vòng đời dự án.

Khu công nghiệp Sông Khoai. Ảnh: Quang Ninh Media
Yêu cầu tương tự đang được đặt ra đối với hệ thống khu công nghiệp và khu kinh tế. Quảng Ninh đặt mục tiêu đến năm 2030 toàn bộ khu công nghiệp và khu kinh tế đạt tiêu chuẩn xanh, áp dụng kinh tế tuần hoàn trong sử dụng nước và xử lý chất thải rắn. Theo định hướng của Bộ Công thương, đây cũng là một trong những điều kiện nhằm nâng sức cạnh tranh và thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có chất lượng cao.
Mục tiêu này đòi hỏi phạm vi thay đổi rộng hơn việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung. Một khu công nghiệp xanh cần sử dụng năng lượng và nước hiệu quả, giảm chất thải, thúc đẩy tái sử dụng nguyên liệu và tạo điều kiện để doanh nghiệp trao đổi phụ phẩm trong quá trình sản xuất. Hiệu quả còn phụ thuộc vào năng lực quản lý của chủ đầu tư hạ tầng, mức độ tham gia của doanh nghiệp thứ cấp và khả năng giám sát của cơ quan chức năng.
Đối với nhà đầu tư, những tiêu chuẩn này ngày càng gắn với chi phí vận hành và khả năng tham gia chuỗi cung ứng quốc tế. Hạ tầng xử lý môi trường tốt, nguồn cung năng lượng ổn định và khả năng quản lý tài nguyên hiệu quả có thể nâng sức hấp dẫn của địa điểm sản xuất. Ngược lại, nếu hạ tầng xanh không theo kịp tốc độ lấp đầy khu công nghiệp, chi phí khắc phục ô nhiễm và nâng cấp hệ thống có thể trở thành gánh nặng trong những năm tiếp theo.
Áp lực tương tự xuất hiện tại các đô thị đang mở rộng. Năm 2025, Quảng Ninh phát sinh khoảng 1.300 tấn chất thải rắn sinh hoạt mỗi ngày, trong khi tổng công suất đốt và chôn lấp của các cơ sở xử lý được nêu ở mức khoảng 1.182 tấn mỗi ngày. Khoảng cách giữa lượng rác phát sinh và năng lực xử lý cho thấy hạ tầng môi trường cần được đầu tư tương xứng với quy mô dân cư, du lịch và hoạt động kinh tế.
Ngày 19/12/2025, Nhà máy đốt rác phát điện thuộc dự án trung tâm xử lý chất thải rắn Thống Nhất được khởi công tại khu vực Vũ Oai. Nhà máy có tổng mức đầu tư khoảng 3.200 tỷ đồng, công suất thiết kế xử lý khoảng 1.300 tấn rác mỗi ngày và phát điện công suất 25 MW. Dự án dự kiến vận hành chính thức từ quý IV/2028.
Khi đi vào hoạt động, nhà máy được kỳ vọng bổ sung đáng kể năng lực xử lý chất thải cho địa phương. Tuy nhiên, hiệu quả lâu dài còn phụ thuộc vào khả năng phân loại rác tại nguồn, thu hồi vật liệu có thể tái chế, kiểm soát khí thải và xử lý tro xỉ sau đốt. Công suất xử lý lớn giúp giảm áp lực trước mắt, trong khi giảm lượng rác phát sinh và tăng tỷ lệ tái chế mới giúp hạn chế nhu cầu xử lý về lâu dài.

