Quảng Ninh tạo thêm động lực phát triển từ vùng cao, biên giới

Từ giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới đến phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Quảng Ninh đang từng bước mở rộng không gian phát triển tại các khu vực miền núi, biên giới. Cùng với đầu tư hạ tầng, các mô hình sinh kế, ứng dụng công nghệ và kết nối thị trường đang tạo thêm cơ hội nâng cao thu nhập cho người dân.

Khi người dân trở thành chủ thể

Tại thôn Pắc Phai, xã Điền Xá, nhiều sản phẩm đặc trưng của vùng cao như gà Tiên Yên, cá suối, rau rừng, măng khô, bánh cốc mò, bánh lá ngải... không còn chỉ được tiêu thụ theo phương thức truyền thống.

Thông qua các buổi livestream, người dân trực tiếp giới thiệu sản phẩm, nhận đơn hàng trên môi trường số và sử dụng mã QR để cung cấp thông tin, truy xuất nguồn gốc. Việc ứng dụng công nghệ từng bước giúp các hộ sản xuất giảm phụ thuộc vào thương lái, tiếp cận trực tiếp hơn với người tiêu dùng và mở rộng thị trường.

Sự thay đổi này cho thấy cách tiếp cận trong phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới của Quảng Ninh đang chuyển dần từ hỗ trợ đơn thuần sang tạo sinh kế, nâng cao năng lực sản xuất và khả năng tham gia thị trường cho người dân.

Chăn nuôi gà Tiên Yên giúp nhiều hộ dân tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới Quảng Ninh thoát nghèo. Ảnh: T.D

Chăn nuôi gà Tiên Yên giúp nhiều hộ dân tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới Quảng Ninh thoát nghèo. Ảnh: T.D

Một ví dụ là mô hình chăn nuôi gà Tiên Yên của chị Lý Thị Ngọc. Trên diện tích khoảng 2 ha, gia đình duy trì quy mô khoảng 3.000 con/lứa, thời gian nuôi từ 5,5 - 6 tháng.

Với giá bán dao động từ 110.000 - 140.000 đồng/kg, mô hình dự kiến mang lại lợi nhuận hơn 100 triệu đồng mỗi năm. Từ hiệu quả bước đầu, gia đình chị Ngọc dự kiến tiếp tục mở rộng quy mô, tăng thêm khoảng 3.000 con trong thời gian tới.

Những mô hình như vậy đang góp phần tạo sinh kế tại chỗ, khai thác lợi thế về sản phẩm bản địa và từng bước đưa sản phẩm vùng cao tiếp cận thị trường rộng hơn.

Hạ tầng mở đường cho sinh kế mới

Sự thay đổi về sinh kế tại các vùng khó khăn gắn với quá trình đầu tư hạ tầng và huy động nguồn lực trong nhiều năm qua.

Trong giai đoạn thực hiện Đề án 196 về đưa các xã, thôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn, Quảng Ninh đã bố trí hơn 1.776 tỷ đồng vốn ngân sách và huy động hơn 397 tỷ đồng vốn tín dụng để đầu tư hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất và cải thiện đời sống người dân.

Giai đoạn 2021 - 2025, thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU và các chương trình mục tiêu quốc gia, tổng nguồn lực huy động cho khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo đạt trên 120.203 tỷ đồng.

Trong cơ cấu nguồn lực, vốn ngoài ngân sách chiếm tỷ trọng lớn. Bình quân, cứ 1 đồng vốn ngân sách có hơn 4,6 đồng vốn ngoài ngân sách tham gia, góp phần mở rộng nguồn lực đầu tư cho hạ tầng và phát triển kinh tế - xã hội tại các địa bàn khó khăn.

Nguồn lực đầu tư đã tạo chuyển biến về giao thông, điện, nước, trường học, cơ sở y tế, hạ tầng thông tin và các công trình phục vụ sản xuất. Đến năm 2025, 100% xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và hải đảo của tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới.

Cùng với hạ tầng kinh tế, khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu của người dân được cải thiện. Các đơn vị cấp xã duy trì các chuẩn phổ cập giáo dục; tỷ lệ trẻ em dân tộc thiểu số nhập học đúng tuổi và hoàn thành chương trình tiểu học đạt 100%.

Hệ thống y tế cơ sở tiếp tục được củng cố, các xã duy trì chuẩn quốc gia về y tế. Đáng chú ý, 100% thôn, bản đã được phủ sóng điện thoại di động và Internet băng rộng cáp quang.

Hạ tầng số không chỉ đáp ứng nhu cầu thông tin, học tập và tiếp cận dịch vụ công, mà còn mở thêm cơ hội phát triển kinh tế. Việc người dân vùng cao có thể livestream bán hàng, quảng bá sản phẩm, sử dụng mã QR hay tham gia thương mại điện tử là một trong những thay đổi rõ nét từ quá trình đầu tư này.

Mở thêm dư địa cho vùng cao, biên giới

Những kết quả đạt được cho thấy, dư địa phát triển của Quảng Ninh không chỉ nằm ở các đô thị, khu công nghiệp hay những ngành kinh tế mũi nhọn. Việc cải thiện hạ tầng, sinh kế và khả năng tiếp cận thị trường đang mở thêm cơ hội phát triển cho các khu vực miền núi, biên giới và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Quảng Ninh đang tập trung phát triển các mô hình sinh kế phù hợp với điều kiện từng địa bàn. Ảnh: T.D

Quảng Ninh đang tập trung phát triển các mô hình sinh kế phù hợp với điều kiện từng địa bàn. Ảnh: T.D

Trong giai đoạn 2026 - 2030, Quảng Ninh tiếp tục định hướng đầu tư đồng bộ hệ thống giao thông, hạ tầng số, điện, nước, giáo dục, y tế, văn hóa và các công trình phục vụ sản xuất tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và hải đảo.

Cùng với đầu tư hạ tầng, trọng tâm là phát triển các mô hình sinh kế phù hợp với điều kiện từng địa bàn; khai thác lợi thế về nông, lâm, thủy sản, sản phẩm bản địa, du lịch cộng đồng và dịch vụ; đồng thời tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và kết nối thị trường.

Từ những mô hình sản xuất nhỏ tại các thôn, bản đến việc đầu tư hạ tầng và mở rộng kết nối số, cách tiếp cận này hướng tới mục tiêu để người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách, mà ngày càng trở thành chủ thể của quá trình phát triển.

Qua đó, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và biên giới có thêm điều kiện khai thác lợi thế riêng, nâng cao thu nhập, thu hẹp khoảng cách phát triển và đóng góp nhiều hơn vào sự phát triển chung của Quảng Ninh./.

Tiến Dũng

Nguồn Thời báo Tài chính: https://thoibaotaichinhvietnam.vn/quang-ninh-tao-them-dong-luc-phat-trien-tu-vung-cao-bien-gioi-202863.html