Quảng Trị: Bảo tồn thiên nhiên bằng công nghệ số, nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị Di sản
Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Quảng Trị, là khu vực có giá trị nổi bật toàn cầu về địa chất, địa mạo, cảnh quan và đa dạng sinh học. Với hệ thống karst hình thành hơn 400 triệu năm, hệ thống hang động, sông ngầm, rừng nguyên sinh cùng hệ sinh thái phong phú, Phong Nha - Kẻ Bàng được đánh giá là một trong những vùng karst tiêu biểu của thế giới, đồng thời có tiềm năng đặc biệt để phát triển du lịch sinh thái, khám phá thiên nhiên và nghỉ dưỡng.
Ông Phạm Hồng Thái – Giám đốc Ban Quản lý Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng chia sẻ: “Những giá trị nổi bật đó được khẳng định qua nhiều danh hiệu quốc tế và quốc gia. Phong Nha - Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới vào các năm 2003 và 2015; năm 2025 trở thành Di sản thiên nhiên thế giới liên biên giới giữa Việt Nam và Lào; năm 2026 được công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới. Những danh hiệu này không chỉ khẳng định giá trị nổi bật toàn cầu của Di sản mà còn đặt ra yêu cầu ngày càng cao trong công tác quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị tự nhiên theo hướng bền vững. Với không gian quản lý rộng lớn, địa hình karst phức tạp và nhiều khu vực khó tiếp cận, công tác quản lý, bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học luôn đặt ra yêu cầu phải đổi mới phương thức quản lý, tăng cường năng lực giám sát và nâng cao chất lượng dữ liệu phục vụ bảo tồn. Mới đây, Ban Quản lý VQG PN-KB đã ban hành Kế hoạch phát triển KHCN, ĐMST, CĐS giai đoạn 2026-2030. Theo đó, các nhiệm vụ sẽ được triển khai đồng bộ trên nhiều lĩnh vực, từ hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin, xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu số, ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong quản lý, BVR, bảo tồn ĐDSH, nghiên cứu khoa học đến nâng cao chất lượng phục vụ khách du lịch và quảng bá hình ảnh di sản trên môi trường số” .

Một góc nhìn Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.
Điểm nổi bật của kế hoạch là định hướng tăng cường ứng dụng các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, như: Trí tuệ nhân tạo; hệ thống thông tin địa lý, viễn thám, thiết bị bay không người lái, dữ liệu số và các nền tảng số trong quản lý, giám sát tài nguyên rừng, theo dõi ĐDSH, hỗ trợ công tác chỉ đạo, điều hành và phát triển du lịch sinh thái thông minh. Đồng thời, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực số, xây dựng môi trường đổi mới sáng tạo, tăng cường hợp tác với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhằm đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ vào thực tiễn.
Từ định hướng đó, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đang từng bước đi vào những công việc cụ thể của Ban Quản lý Vườn. Các công nghệ như GIS, viễn thám, Drone, SMART, bẫy ảnh, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng dữ liệu được ứng dụng ngày càng rộng hơn trong quản lý, bảo vệ rừng, giám sát tài nguyên và đa dạng sinh học.
Không chỉ trong công tác chuyên môn, chuyển đổi số cũng từng bước hiện diện trong hoạt động quản lý, điều hành hằng ngày. Việc sử dụng các nền tảng số dùng chung của tỉnh, phần mềm quản lý văn bản và điều hành, phần mềm quản lý cán bộ, công chức, viên chức; trao đổi công việc trên các nền tảng số, ứng dụng Zalo; khai thác VNeID và các tiện ích số phục vụ công việc đang góp phần thay đổi phương thức xử lý công việc theo hướng nhanh hơn, thuận tiện hơn và tăng cường kết nối giữa các bộ phận.
Cùng với đó, cán bộ, viên chức từng bước sử dụng các công cụ trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ xử lý, tổng hợp và khai thác thông tin; khai thác các ứng dụng dự báo thời tiết phục vụ theo dõi tình hình thời tiết, hỗ trợ công tác quản lý, tuần tra, phòng cháy, chữa cháy rừng và ứng phó với các tình huống phát sinh. Các nền tảng mạng xã hội cũng được khai thác như một kênh truyền thông, quảng bá hình ảnh, giá trị tài nguyên và sản phẩm du lịch của Phong Nha - Kẻ Bàng, góp phần đưa hình ảnh Di sản đến gần hơn với du khách và cộng đồng.
Từ những bước chân trong rừng
Bảo vệ một khu rừng rộng lớn chưa bao giờ là công việc đơn giản. Ở Phong Nha - Kẻ Bàng, lực lượng bảo vệ rừng vẫn ngày ngày bám địa bàn, đi sâu vào những khu vực hiểm trở, tổ chức tuần tra, kiểm soát, phòng cháy, chữa cháy rừng, phát hiện và ngăn chặn các hành vi xâm hại tài nguyên.

Trong quá trình tuần tra, lực lượng bảo vệ rừng không chỉ dựa vào kinh nghiệm thực địa và sự am hiểu địa bàn mà ngày càng có thêm sự hỗ trợ của các công cụ số. Phần mềm SMART được sử dụng trong tuần tra, quản lý vi phạm và đánh giá hoạt động; hệ thống GIS được sử dụng để xây dựng bản đồ số, phân định địa bàn quản lý; thiết bị bay không người lái hỗ trợ theo dõi hiện trạng rừng tại những khu vực địa hình phức tạp, khó tiếp cận; hệ thống cảnh báo mất rừng được khai thác để theo dõi, phát hiện sớm các điểm biến động - Ảnh: VQG PN-KB.
Những người trực tiếp làm nhiệm vụ vẫn là lực lượng nòng cốt của công tác bảo tồn. Công nghệ không thay thế họ, mà đang trở thành công cụ giúp những bước chân ấy đi xa hơn, quan sát được nhiều hơn và đưa ra quyết định có cơ sở hơn.
Trung tâm Bảo vệ rừng và Di sản thế giới là lực lượng tuyến đầu trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng, bảo vệ đa dạng sinh học và Di sản.
Trong quá trình tuần tra, lực lượng bảo vệ rừng không chỉ dựa vào kinh nghiệm thực địa và sự am hiểu địa bàn mà ngày càng có thêm sự hỗ trợ của các công cụ số. Phần mềm SMART được sử dụng trong tuần tra, quản lý vi phạm và đánh giá hoạt động; hệ thống GIS được sử dụng để xây dựng bản đồ số, phân định địa bàn quản lý; thiết bị bay không người lái hỗ trợ theo dõi hiện trạng rừng tại những khu vực địa hình phức tạp, khó tiếp cận; hệ thống cảnh báo mất rừng được khai thác để theo dõi, phát hiện sớm các điểm biến động.
Ban quản lý Vườn từng bước ứng dụng GIS, viễn thám, Drone, SMART, FRMS, ArcGIS và trí tuệ nhân tạo trong quản lý, bảo vệ rừng, giám sát tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học.
Nếu trước đây một chuyến tuần tra chủ yếu được ghi nhận bằng những gì cán bộ nhìn thấy và ghi chép tại hiện trường, thì nay mỗi chuyến đi có thể tạo ra thêm những lớp dữ liệu mới. Bản đồ, tọa độ, hình ảnh, thông tin tuần tra và các điểm biến động được kết nối, giúp hình thành một cách nhìn đầy đủ hơn về địa bàn.
Đó là sự thay đổi quan trọng: Người gác rừng vẫn phải bước đi dưới tán rừng, nhưng phía sau những bước chân ấy ngày càng có thêm sức mạnh của dữ liệu.
Những “con mắt” giữa đại ngàn
Trong bảo tồn đa dạng sinh học, một trong những thách thức lớn nhất là làm thế nào để biết được những gì đang diễn ra trong một hệ sinh thái rộng lớn, nơi con người không thể hiện diện liên tục.

Tại Phong Nha - Kẻ Bàng, việc ứng dụng phần mềm Wildlife Insights để phân tích dữ liệu bẫy ảnh đã hỗ trợ công tác điều tra, giám sát đa dạng sinh học và xây dựng dữ liệu khoa học. 120 trạm bẫy ảnh đã ghi nhận 14.567 lượt phát hiện động vật, gồm 25 loài thú cỡ trung và lớn, 05 loài chim Trĩ, 04 loài đặc hữu Trường Sơn và 04 loài nguy cấp, quý, hiếm - Ảnh: VQG PN-KB.
Tại Phong Nha - Kẻ Bàng, việc ứng dụng phần mềm Wildlife Insights để phân tích dữ liệu bẫy ảnh đã hỗ trợ công tác điều tra, giám sát đa dạng sinh học và xây dựng dữ liệu khoa học. 120 trạm bẫy ảnh đã ghi nhận 14.567 lượt phát hiện động vật, gồm 25 loài thú cỡ trung và lớn, 05 loài chim Trĩ, 04 loài đặc hữu Trường Sơn và 04 loài nguy cấp, quý, hiếm.
Giá trị của công nghệ không chỉ nằm ở việc “chụp được ảnh”. Mỗi hình ảnh được ghi nhận trong rừng là một mảnh ghép của dữ liệu đa dạng sinh học. Khi được phân tích, lưu trữ và đối chiếu theo thời gian, những dữ liệu đó có thể giúp các nhà quản lý và nghiên cứu hiểu rõ hơn về sự hiện diện, phân bố và diễn biến của các loài.
Từ những “con mắt” được đặt âm thầm trong rừng, một phần đời sống của hệ sinh thái được ghi lại mà không cần con người phải hiện diện thường xuyên.
Đây chính là một trong những giá trị quan trọng mà công nghệ mang lại cho bảo tồn: biến những quan sát rời rạc thành dữ liệu có thể lưu trữ, phân tích và sử dụng lâu dài.
Từ dữ liệu đến quyết định bảo tồn
Từ những dữ liệu được hình thành trong quá trình tuần tra, giám sát và nghiên cứu, yêu cầu về một phương thức quản lý thông minh hơn ngày càng trở nên rõ nét. Với một khu vực có lịch sử địa chất hàng trăm triệu năm, hệ thống karst rộng lớn, địa hình phân hóa và hệ sinh thái đa dạng như Phong Nha - Kẻ Bàng, nhu cầu về dữ liệu không chỉ dừng lại ở tài nguyên rừng hay một nhóm loài, mà cần được nhìn nhận trong mối quan hệ tổng thể giữa tài nguyên, không gian, hoạt động của con người và những biến động của tự nhiên.

Trong hành trình tuần tra và bảo vệ rừng, công nghệ đang ngày càng trở thành một “trợ thủ” đắc lực của lực lượng chức năng - Ảnh: VQG PN-KB.
Đây cũng là cơ sở để Ban Quản lý Vườn chủ động đề xuất những bài toán lớn về khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Các dự án đã được tỉnh thống nhất chủ trương sẽ tạo tiền đề để những ứng dụng công nghệ ban đầu từng bước được phát triển thành các hệ thống phục vụ quản lý, nghiên cứu và bảo tồn ở quy mô lớn hơn.
Theo Kế hoạch phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, Ban Quản lý Vườn xác định từng bước hình thành cơ sở dữ liệu số tập trung về Di sản thiên nhiên, đa dạng sinh học và tài nguyên rừng; đồng thời đẩy mạnh số hóa dữ liệu về đa dạng sinh học, địa chất, thủy văn, lịch sử và văn hóa trên phạm vi Di sản.
Định hướng này cho thấy chuyển đổi số trong bảo tồn không chỉ là trang bị thêm thiết bị hay phần mềm. Quan trọng hơn là hình thành hệ sinh thái dữ liệu về Di sản, trong đó các nguồn thông tin khác nhau từng bước được số hóa, chuẩn hóa, kết nối và khai thác.
Khi dữ liệu về rừng, đa dạng sinh học, địa chất, thủy văn, du lịch và nghiên cứu khoa học được tích hợp, khả năng nhìn nhận Di sản cũng thay đổi. Người quản lý không chỉ nhìn thấy từng vấn đề riêng lẻ mà có thể từng bước nhận diện các mối quan hệ, xu hướng và nguy cơ, qua đó hỗ trợ lựa chọn giải pháp và phân bổ nguồn lực bảo tồn phù hợp hơn.
Đó chính là giá trị cốt lõi của việc ứng dụng công nghệ trong bảo tồn: dữ liệu không chỉ để lưu trữ, mà trở thành cơ sở cho tri thức; từ tri thức hỗ trợ quyết định và từ quyết định tạo ra những hành động bảo tồn kịp thời, chính xác và hiệu quả hơn.
Công nghệ mở thêm không gian cho nghiên cứu
Đối với nghiên cứu khoa học, giá trị của dữ liệu càng thể hiện rõ hơn theo thời gian.
Từ những dữ liệu được thu thập hôm nay không chỉ phục vụ một cuộc điều tra hay một nhiệm vụ cụ thể, mà có thể trở thành nguồn tư liệu cho các nghiên cứu tiếp theo. Kế hoạch của Ban Quản lý Vườn đã xác định việc xây dựng các ô định vị tiêu chuẩn phục vụ nghiên cứu diễn thế rừng và đa dạng sinh học, đồng thời từng bước hình thành hệ thống dữ liệu phục vụ nghiên cứu khoa học và quản lý tài nguyên.
Cùng với đó, Vườn định hướng xây dựng bộ cơ sở dữ liệu dùng chung cho khu đa danh hiệu Phong Nha - Kẻ Bàng. Đây là bước đi có ý nghĩa lâu dài, bởi dữ liệu khi được tổ chức tốt sẽ không chỉ phục vụ một đơn vị hay một nhiệm vụ riêng lẻ mà còn có thể hỗ trợ hợp tác nghiên cứu, quản lý và phát huy giá trị Di sản.
Nói cách khác, công nghệ đang giúp “lưu giữ” không chỉ hình ảnh của rừng mà cả những tri thức về rừng.
Bảo tồn và phát huy giá trị Di sản cùng đi trên một nền tảng số
Công nghệ cũng đang mở ra những cách tiếp cận mới đối với du lịch sinh thái.
Ứng dụng nền tảng số, bản đồ số, vé điện tử, thuyết minh tự động, các ứng dụng hỗ trợ du khách tra cứu thông tin hay những mô hình du lịch sinh thái thông minh không chỉ nhằm nâng cao trải nghiệm của người tham quan. Khi được tổ chức phù hợp, dữ liệu từ hoạt động du lịch còn có thể hỗ trợ công tác quản lý, theo dõi hoạt động tại các điểm tham quan và từng bước kiểm soát tác động của con người đến tài nguyên.

Công nghệ cũng đang mở ra những cách tiếp cận mới đối với du lịch sinh thái - Ảnh: VQG PN-KB.
Trong định hướng giai đoạn 2026-2030, Ban Quản lý Vườn đặt mục tiêu phát triển mô hình du lịch sinh thái thông minh gắn với bảo tồn tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đồng thời, việc xây dựng hệ thống giám sát thông minh tài nguyên rừng và đa dạng sinh học được xác định là một nhiệm vụ trọng điểm.
Công nghệ cũng hỗ trợ công tác cứu hộ, cứu nạn và ứng phó với các tình huống phát sinh trong điều kiện địa hình phức tạp. Việc khai thác các thiết bị, nền tảng thông tin và dữ liệu địa hình, thời tiết giúp nâng cao khả năng nắm bắt tình hình, phối hợp lực lượng và xử lý tình huống, qua đó góp phần bảo đảm an toàn cho cán bộ, nhân viên và du khách.
“Trong giai đoạn 2026-2030, Ban Quản lý VQG PN-KB cũng sẽ tập trung triển khai nhiều nhiệm vụ trọng điểm, như: Xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu chuyên ngành; phát triển hạ tầng số; nâng cấp các nền tảng phục vụ quản lý và du lịch; tăng cường bảo đảm an toàn thông tin; phát triển các mô hình quản lý rừng thông minh, du lịch sinh thái thông minh và hệ sinh thái ĐMST. Tổng kinh phí dự kiến thực hiện kế hoạch là hơn 51 tỉ đồng, được huy động từ nhiều nguồn kinh phí hợp pháp để bảo đảm triển khai hiệu quả các mục tiêu đề ra…”, Giám đốc Ban Quản lý VQG PN-KB Phạm Hồng Thái cho biết thêm.

