Quảng Trị phát triển nông nghiệp hữu cơ theo hướng tập trung, liên kết chuỗi và bền vững
Quảng Trị xác định nông nghiệp hữu cơ không chỉ là một phương thức sản xuất mà còn là hướng phát triển nhằm nâng cao giá trị, chất lượng và tính bền vững của nền nông nghiệp. Từ những mô hình bước đầu, tỉnh đang từng bước hình thành các vùng sản xuất hữu cơ, sản phẩm được chứng nhận, có liên kết tiêu thụ và cho thấy hiệu quả kinh tế rõ nét.

Ông Phan Ngọc Đồng, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Trị
Trong thời gian tới, Quảng Trị định hướng không phát triển nông nghiệp hữu cơ theo hướng dàn trải mà tập trung vào những ngành hàng có lợi thế, có thị trường; lấy tích tụ, tập trung đất đai và phát triển vùng nguyên liệu làm nền tảng; lấy doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX) làm hạt nhân liên kết. Đồng thời, sản xuất hữu cơ sẽ được gắn với kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải, chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc và chế biến sâu.
Phóng viên Tạp chí điện tử Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam có cuộc trao đổi với ông Phan Ngọc Đồng, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Trị, về những kết quả đạt được, thuận lợi, khó khăn và định hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ của địa phương.
Phóng viên: Thưa ông Phan Ngọc Đồng, thời gian qua tỉnh Quảng Trị đã có những chính sách gì để thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ?
Ông Phan Ngọc Đồng, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Trị: Quảng Trị đang từng bước hình thành một hệ thống chính sách khá đồng bộ cho phát triển nông nghiệp hữu cơ. Các chính sách không chỉ tập trung hỗ trợ trực tiếp cho sản xuất hữu cơ mà còn chú trọng những điều kiện nền tảng như đất đai, vùng nguyên liệu, liên kết chuỗi, khoa học công nghệ, vật tư sinh học và thị trường.
Một số chính sách, chương trình nổi bật có thể kể đến như Quyết định số 3014/QĐ-UBND ngày 10/12/2024 phê duyệt Đề án phát triển lúa hữu cơ gắn với liên kết theo chuỗi giá trị bền vững giai đoạn 2025–2030. Đây là chính sách trực tiếp, tạo cơ sở để phát triển các vùng lúa hữu cơ theo hướng gắn sản xuất với doanh nghiệp, HTX và tiêu thụ sản phẩm.
Tiếp đó là Kế hoạch số 1471/KH-UBND ngày 21/10/2025 triển khai Đề án phát triển sản xuất và sử dụng phân bón hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật sinh học trên địa bàn tỉnh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đây là hướng đi rất quan trọng nhằm từng bước thay đổi đầu vào sản xuất, giảm sự phụ thuộc vào vật tư hóa học và thúc đẩy sử dụng các loại vật tư thân thiện với môi trường.
Đặc biệt, Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 30/3/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về tích tụ, tập trung đất nông nghiệp gắn với cơ giới hóa, hiện đại hóa sản xuất và phát triển vùng nguyên liệu theo định hướng hữu cơ, tuần hoàn, xanh, số đã xác định tích tụ, tập trung đất đai và phát triển vùng nguyên liệu là một trong những giải pháp đột phá.
Nghị quyết hướng tới chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất tập trung, quy mô lớn; đồng thời ưu tiên nhân rộng các mô hình hữu cơ, tuần hoàn, xanh và số.
Điểm đáng chú ý trong cách tiếp cận của Quảng Trị là không xem nông nghiệp hữu cơ như một lĩnh vực riêng biệt mà đặt trong tổng thể “hữu cơ – tuần hoàn – xanh – số – liên kết chuỗi”. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu phát triển một nền nông nghiệp hiện đại, có giá trị gia tăng cao và bền vững.
Phóng viên: Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ ở Quảng Trị hiện nay là gì, thưa ông?
Ông Phan Ngọc Đồng: Về thuận lợi, trước hết, Quảng Trị có nền tảng tài nguyên và điều kiện tự nhiên khá thuận lợi để phát triển nông nghiệp hữu cơ.
Sau hợp nhất, tỉnh có trên 1,13 triệu ha đất sản xuất nông nghiệp, trong đó trên 206 nghìn ha đất trồng trọt, gần 925 nghìn ha đất lâm nghiệp và trên 6.500 ha đất nuôi trồng thủy sản. Tỉnh cũng đã hình thành nhiều vùng sản xuất hàng hóa đối với các ngành hàng như lúa, cà phê, hồ tiêu, cây ăn quả, dược liệu, rau màu và lâm nghiệp. Đây là cơ sở thuận lợi để hình thành các vùng sản xuất hữu cơ chuyên canh, quy mô lớn.
Thứ hai, định hướng phát triển của tỉnh rất rõ. Nông nghiệp xanh được xác định là một trong bốn trụ cột phát triển kinh tế của tỉnh, trong đó nông nghiệp hữu cơ là một bộ phận quan trọng của mô hình tăng trưởng xanh và bền vững.
Thứ ba, trên địa bàn đã xuất hiện những doanh nghiệp, HTX có vai trò dẫn dắt chuỗi. Tiêu biểu có Tập đoàn Quế Lâm, Tổng Công ty Thương mại Quảng Trị, HTX Nông sản hữu cơ Gio Linh và một số doanh nghiệp khác.
Riêng Tập đoàn Quế Lâm đã hình thành các mô hình làng nông nghiệp hữu cơ, liên kết chăn nuôi, đồng thời triển khai các hoạt động đào tạo và tiêu thụ sản phẩm hữu cơ. Sự tham gia của các doanh nghiệp, HTX là yếu tố rất quan trọng để kết nối người dân với thị trường và từng bước hình thành chuỗi giá trị.
Thứ tư, người sản xuất đã bắt đầu nhận thấy rõ hơn hiệu quả kinh tế của sản xuất hữu cơ. Các mô hình lúa hữu cơ cho năng suất khoảng 55–68 tạ/ha, sản phẩm được bao tiêu với giá cao hơn thị trường khoảng 20–40%, lợi nhuận đạt khoảng 20–30 triệu đồng/ha, cao hơn sản xuất truyền thống khoảng 20–35%.
Tuy nhiên, phát triển nông nghiệp hữu cơ cũng là một quá trình chuyển đổi dài hạn và Quảng Trị vẫn còn một số điểm nghẽn cần tháo gỡ.
Trước hết, quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, phân tán, chưa hình thành được nhiều vùng nguyên liệu hữu cơ đủ lớn và ổn định. Liên kết giữa sản xuất – chế biến – tiêu thụ ở một số nơi chưa thực sự bền vững. Số doanh nghiệp đầu tư sâu vào nông nghiệp, chế biến sâu và có khả năng dẫn dắt chuỗi còn hạn chế.
Bên cạnh đó, chi phí và yêu cầu chứng nhận hữu cơ tương đối cao, trong khi quy mô sản xuất của nhiều hộ nông dân còn nhỏ. Nhận thức và năng lực sản xuất của một bộ phận người dân còn hạn chế. Sản xuất hữu cơ đòi hỏi người dân phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình, ghi chép nhật ký sản xuất, quản lý dịch hại, sử dụng vật tư sinh học và thực hiện nhiều yêu cầu kỹ thuật khác.
Hạ tầng phục vụ vùng nguyên liệu, chế biến và logistics chưa đồng bộ. Việc ứng dụng khoa học công nghệ, truy xuất nguồn gốc và chứng nhận chất lượng chưa đồng đều. Nguồn lực đầu tư còn hạn chế, chưa đủ mạnh để tạo ra những vùng sản xuất hữu cơ hàng hóa có quy mô lớn.
Theo tôi, một điểm rất quan trọng là khó khăn lớn nhất hiện nay không còn nằm ở câu chuyện “có làm được hữu cơ hay không”, mà là làm thế nào để tổ chức sản xuất hữu cơ ở quy mô lớn, có thị trường ổn định và tạo ra giá trị đủ cao để người dân tự nguyện tham gia.
Phóng viên: Vậy đâu là những kết quả, thành tựu bước đầu nổi bật trong phát triển nông nghiệp hữu cơ của Quảng Trị thời gian qua?
Ông Phan Ngọc Đồng: Có thể khái quát một số kết quả nổi bật.
Thứ nhất, diện tích sản xuất hữu cơ đã hình thành tương đối đa dạng. Theo báo cáo tổng quan của Sở Nông nghiệp và Môi trường, toàn tỉnh hiện có 1.497,71 ha được chứng nhận hữu cơ, gồm 227,1 ha lúa; 20,2 ha cà phê; 94,6 ha hồ tiêu; 534 ha cây ăn quả; 552,6 ha cây dược liệu và các cây trồng khác.
Ngoài ra, còn có 384 ha lúa canh tác tự nhiên và 619,15 ha sản xuất theo hướng hữu cơ đang hoàn thiện các điều kiện để được chứng nhận.
Đây là con số đáng chú ý, cho thấy sản xuất hữu cơ ở Quảng Trị đã từng bước chuyển từ những mô hình đơn lẻ sang hình thành các nhóm sản phẩm và vùng sản xuất.
Thứ hai, đã hình thành những mô hình hữu cơ có hiệu quả và có đầu ra tương đối ổn định.
Đối với cây lúa, Trung tâm Khuyến nông đã triển khai 15 ha lúa hữu cơ vụ Đông Xuân 2024–2025, năng suất đạt 58 tạ/ha, lợi nhuận từ 25–30 triệu đồng/ha.
Vụ Hè Thu năm 2025, diện tích thực hiện là 13 ha, năng suất đạt 65–68 tạ/ha, lợi nhuận khoảng 20–25 triệu đồng/ha.
Năm 2026, Trung tâm tiếp tục triển khai 20 ha lúa hữu cơ tại Vĩnh Linh và 5 ha mô hình lúa – tôm tại Gio Linh. Sản phẩm đã được chứng nhận và gắn với liên kết tiêu thụ.
Thứ ba, sản xuất hữu cơ bước đầu chứng minh được hiệu quả kinh tế.
Hữu cơ không chỉ tạo ra sản phẩm an toàn, thân thiện hơn với môi trường mà đang từng bước chứng minh khả năng tạo ra giá trị kinh tế cao hơn cho người sản xuất.
Các mô hình lúa hữu cơ có giá bán cao hơn thị trường khoảng 20–40%, lợi nhuận cao hơn sản xuất truyền thống khoảng 20–35%.
Đặc biệt, mô hình lúa hữu cơ kết hợp nuôi tôm càng xanh tại Gio Linh, quy mô 5 ha, cho năng suất lúa khoảng 58 tạ/ha, giá thu mua 9.000 đồng/kg, cao hơn khoảng 29% so với lúa thông thường, lợi nhuận khoảng 24 triệu đồng/ha.
Mô hình này đồng thời tận dụng được hệ sinh thái lúa – tôm, giảm sử dụng vật tư hóa học và khai thác hiệu quả hơn nguồn đất, nước. Đây là hướng sản xuất phù hợp với yêu cầu phát triển nông nghiệp tuần hoàn và bền vững.
Thứ tư, sản xuất hữu cơ đã bắt đầu gắn với truy xuất nguồn gốc và thị trường.
Các sản phẩm hữu cơ được hỗ trợ chứng nhận đều được gắn nhãn mác và tem truy xuất nguồn gốc bằng mã QR, qua đó nâng cao tính minh bạch về thông tin sản phẩm, tạo niềm tin cho người tiêu dùng và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Thứ năm, bước đầu hình thành hệ sinh thái liên kết trong phát triển nông nghiệp hữu cơ.
Nghị quyết số 04-NQ/TU định hướng phát huy vai trò liên kết “6 nhà” gồm Nhà nước – nhà khoa học – doanh nghiệp – nông dân – ngân hàng – nhà phân phối, gắn vùng nguyên liệu với chế biến và thị trường.
Theo tôi, đây chính là nền tảng quan trọng để Quảng Trị chuyển từ “sản xuất hữu cơ theo mô hình” sang “phát triển ngành hàng hữu cơ”.
Trong thời gian tới, tỉnh cần tiếp tục tập trung nguồn lực vào những ngành hàng có lợi thế cạnh tranh, có khả năng hình thành vùng nguyên liệu và có thị trường tiêu thụ rõ ràng. Cùng với đó là thúc đẩy tích tụ, tập trung đất đai; nâng cao vai trò của doanh nghiệp và HTX; tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc; phát triển chế biến sâu và gắn sản xuất hữu cơ với kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải…
Phóng viên: Cảm ơn ông về cuộc phỏng vấn này.

