Nông nghiệp tuần hoàn Tây Ninh: Khép kín chuỗi giá trị xuất khẩu
Tây Ninh với khát vọng phát triển một nền nông nghiệp xanh, sạch và bền vững đang dần được hiện thực hóa thông qua các mô hình kinh tế tuần hoàn.

Trang trại chăn nuôi lợn khép kính tại Tây Ninh. Ảnh: Thanh Tân - TTXVN
Tây Ninh với khát vọng phát triển một nền nông nghiệp xanh, sạch và bền vững đang dần được hiện thực hóa thông qua các mô hình kinh tế tuần hoàn, nơi chất thải của ngành chăn nuôi được tận dụng tối đa, sử dụng tốt tạo dinh dưỡng cho cây trồng. Với sự bắt tay giữa nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và người nông dân, mô hình này không chỉ giải quyết triệt để bài toán xử lý môi trường trong ngành chăn nuôi, mà còn hứa hẹn kiến tạo ra chuỗi giá trị nông sản bền vững.
Khi chất thải hóa tài nguyên dinh dưỡng
Theo số liệu thống kê, tổng đàn lợn toàn tỉnh hiện nay đạt khoảng 869.000 con; trong đó, có 65 dự án chăn nuôi với quy mô gần 640.000 con lợn đã đi vào hoạt động ổn định. Chưa dừng lại ở đó, làn sóng đầu tư vào lĩnh vực này vẫn đang tiếp tục bùng nổ mạnh mẽ với 24 dự án chăn nuôi lợn khác, quy mô hơn 1,1 triệu con đang trong quá trình triển khai đầu tư và xây dựng.
Sự tăng trưởng thần tốc này một mặt khẳng định vị thế kinh tế nông nghiệp của tỉnh, mặt khác lại tạo ra áp lực khổng lồ lên hệ thống hạ tầng bảo vệ môi trường nông thôn. Mỗi ngày, hàng triệu mét khối chất thải và nước thải chăn nuôi phát sinh đòi hỏi phải có những giải pháp xử lý triệt để, an toàn và mang tính đột phá.
Theo ông Phạm Thế Anh, Trưởng phòng vận hành môi trường, Công ty cổ phần Nông nghiệp BAF Việt Nam (Công ty BAF), từ năm 2021, Công ty BAF đã xác định việc kết hợp giữa chăn nuôi bền vững và trồng trọt là một định hướng chiến lược mang tính sống còn. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu triển khai, doanh nghiệp đã vấp phải không ít khó khăn do thiếu hụt một hành lang pháp lý đồng bộ và rõ ràng.
Bước ngoặt chỉ thực sự xuất hiện khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-195:2022/BNNPTNT vào năm 2022. Quy chuẩn này đã tạo ra cơ sở pháp lý cực kỳ quan trọng, tháo gỡ nút thắt pháp lý để các trang trại tự tin tái sử dụng nước thải sau xử lý một cách hợp pháp và an toàn. Giai đoạn thí điểm, Công ty BAF dự kiến sẽ triển khai trên diện tích từ 100 đến 200 ha cho nhiều loại cây trồng khác nhau.
Ông Nguyễn Văn Minh, Phó Giám đốc Công ty BAF cho biết, đã có nhiều ý kiến lo ngại quy trình xử lý nước thải chăn nuôi để phục vụ trồng trọt là một hệ thống cực kỳ phức tạp và tốn kém. Song, quy trình này thực tế được tối ưu hóa dựa trên các công nghệ nền tảng sẵn có kết hợp với sự hoàn thiện mang tính đồng bộ. Hệ thống vẫn vận hành dựa trên các công nghệ xử lý nước thải thông thường như biogas, lên men kỵ khí, hiếu khí và ủ sinh học. Điểm mấu chốt tạo nên sự khác biệt vượt trội chính là việc hoàn thiện quy trình công nghệ và lựa chọn chính xác thời điểm để thu hồi nước thải sau xử lý, biến nguồn nước này thành nguồn nước tưới giàu dinh dưỡng cho cây trồng.
Theo đó, quy trình xử lý nước thải được kiểm soát nghiêm ngặt qua một chu trình khép kín tuyệt đối gồm: Thu gom và tách rắn - lỏng; Xử lý sinh học sâu; Kiểm nghiệm chất lượng và phân tích dinh dưỡng; Xây dựng chương trình tưới tiêu khoa học; Vận chuyển và phân phối khép kín.
Liên kết chuỗi bền vững

Quy trình tái sử dụng nước thải chăn nuôi sau xử lý để tưới cho cây trồng. Ảnh: Thanh Tân - TTXVN
Phó Giám đốc Công ty BAF Nguyễn Văn Minh cũng cho biết, sự ưu việt của mô hình tuần hoàn nước thải chăn nuôi không chỉ dừng lại ở khía cạnh công nghệ, mà còn nằm ở tư duy quy hoạch sử dụng đất thông minh, bám sát đặc điểm địa lý từng vùng.
Tại những khu vực có quỹ đất nhỏ nhưng giá trị đất cao và chất đất tốt, doanh nghiệp ưu tiên tập trung sản xuất các loại rau, củ, quả có giá trị kinh tế cao để đưa vào chuỗi siêu thị bán lẻ của mình. Ngược lại, đối với những vùng có quỹ đất rộng lớn nhưng chất đất cằn cỗi, khó khai thác trực tiếp cho các cây trồng đòi hỏi dinh dưỡng cao, mô hình tập trung canh tác các loại cây phục vụ ngành chăn nuôi như ngô, khoai lang, khoai tây và khoai mì.
"Chuỗi giá trị tuần hoàn được khép kín hoàn hảo khi những phần nông sản có giá trị cao được đưa ra thị trường tiêu thụ. Trong khi đó, toàn bộ phần phụ phẩm hoặc những sản phẩm có chất lượng thấp hơn sẽ được sấy khô, nghiền nhỏ để làm nguyên liệu đầu vào cho nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi của chính doanh nghiệp", ông Nguyễn Văn Minh nhấn mạnh.
Không dừng lại ở thị trường nội địa, mô hình đang hướng tới việc xây dựng vùng nguyên liệu xuất khẩu chất lượng cao. Công ty BAF hiện đang quy hoạch các vùng trồng cây gia vị, cây thảo dược phục vụ mục tiêu xuất khẩu và cung cấp cho nhà máy sản xuất gia vị nội bộ. Song song đó, vùng chuyên canh trồng khoai tây và bí ngô xuất khẩu sang Nhật Bản, Hàn Quốc đang được khẩn trương triển khai.
Theo Phó Giám đốc Công ty BAF Nguyễn Văn Minh, kết quả từ mô hình thí điểm trồng bí ngô bằng phân bón và nguồn nước xử lý từ trang trại đã đem lại tín hiệu vô cùng lạc quan khi các mẫu kiểm nghiệm liên quan đến tồn dư hóa chất đều đạt 100% yêu cầu. Hiện tại, các mẫu thử nghiệm này đã được gửi sang đối tác Nhật Bản kiểm tra với kỳ vọng hoàn thiện quy trình kỹ thuật để tiến tới xây dựng vùng nguyên liệu xuất khẩu quy mô lớn tại địa phương.
Theo Tiến sĩ Trương Vĩnh Hải, Phó Viện trưởng phụ trách Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam (IAS), một mô hình nông nghiệp tuần hoàn sẽ không thể thành công nếu thiếu đi sự tham gia của người nông dân địa phương. Mô hình chỉ có thể thành công khi các quy trình kỹ thuật được kiểm soát chặt chẽ, vừa đảm bảo an toàn, phù hợp với điều kiện sản xuất, vừa tạo ra những lợi ích thiết thực cho người dân.
Nhận thức rõ điều này, Công ty BAF đã xác định việc liên kết với các hộ nông dân xung quanh khu vực trang trại là một trong những nội dung trọng tâm trong thời gian tới. Trong mối liên kết này, người nông dân được hỗ trợ toàn diện từ khâu đầu vào đến đầu ra. Doanh nghiệp sẽ đầu tư đồng bộ hạ tầng đường ống dẫn nước tưới, cung cấp cây giống chất lượng, chuyển giao khoa học kỹ thuật và cử đội ngũ kỹ thuật trực tiếp hướng dẫn, đồng hành cùng bà con trong suốt quá trình canh tác. Tham gia vào mô hình này, người nông dân được hưởng những lợi ích vô cùng thiết thực như: Không phải phụ thuộc vào nguồn vốn đầu tư quá lớn; Không phải lo lắng về quy trình kỹ thuật canh tác phức tạp và hoàn toàn gạt bỏ nỗi lo về đầu ra cho sản phẩm nông sản.
Đây chính là giải pháp tối ưu giúp người dân khai thác quỹ đất một cách hiệu quả nhất, nâng cao giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích, giúp ổn định đời sống và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng nông thôn.
Giám sát khoa học nghiêm ngặt

Đường ống dẫn nước thải chăn nuôi sau xử lý để tưới cho cây trồng. Ảnh: Thanh Tân - TTXVN
Dưới góc độ quản lý nhà nước, bà Đinh Thị Phương Khanh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tây Ninh khẳng định, mặc dù mô hình mang lại những triển vọng kinh tế rất lớn, nhưng yếu tố an toàn môi trường phải luôn được đặt lên hàng đầu. Bà Khanh nhấn mạnh: Để hạn chế tối đa sự cố phát sinh, mô hình ưu tiên lựa chọn các hộ tưới không sử dụng nguồn nước từ sông, suối và Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh sẽ cử cán bộ chuyên môn trực tiếp quan sát, đánh giá và theo dõi tần suất tưới bằng các phương pháp khoa học nhằm cam kết tuyệt đối không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường.
Theo bà Khanh, vì đây là mô hình thí điểm mang tính chất nghiên cứu khoa học với nhiều chiều hướng tiếp cận khác nhau, nên việc xây dựng một giải pháp quản lý rủi ro hoàn chỉnh và chặt chẽ là yêu cầu bắt buộc nhằm hạn chế ở mức thấp nhất các tác động đến môi trường trong trường hợp xảy ra sự cố. Kỳ vọng lớn nhất của địa phương đối với dự án thí điểm này là đạt được hiệu quả toàn diện, vừa đảm bảo công tác chăn nuôi an toàn sinh học, vừa mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực cho nông dân, đồng thời gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ môi trường nông thôn.
Đồng quan điểm dưới góc nhìn khoa học, Tiến sĩ Trương Vĩnh Hải, Phó Viện trưởng phụ trách Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam (IAS) nhận định, việc tái sử dụng các nguồn tài nguyên sau xử lý trong sản xuất nông nghiệp là hướng đi có ý nghĩa thực tiễn cực kỳ cao, giúp tiết kiệm nguồn nước, tận dụng dinh dưỡng và giảm tối đa chi phí đầu vào.
Tuy nhiên, Tiến sĩ Trương Vĩnh Hải cho rằng mục tiêu của mô hình thí điểm không phải đơn thuần là chứng minh có thể sử dụng được nguồn nước sau xử lý, mà quan trọng hơn là xác định được các giới hạn, quy trình an toàn, hiệu quả và cơ sở khoa học để chúng ta xem xét nhân rộng mô hình.
Theo các chuyên gia, nếu mô hình thí điểm tại Tây Ninh chứng minh được hiệu quả kinh tế và an toàn môi trường một cách thuyết phục, đây không chỉ là thành công riêng của địa phương mà sẽ mở ra khả năng áp dụng rộng rãi tại các vùng khác trên cả nước có điều kiện tương tự. Kết quả phối hợp này được kỳ vọng sẽ xây dựng nên một quy trình chuẩn mực, có cơ sở khoa học vững chắc, an toàn và hiệu quả, góp phần thiết thực đưa nền nông nghiệp Việt Nam dịch chuyển theo hướng xanh hơn, sạch hơn và bền vững hơn.


