Quang vinh thay Thành phố mang tên Bác Hồ muôn vàn kính yêu!

Trong lịch sử Cách mạng đương đại, trên thế giới đã có nhiều thành phố từng đứng trên đầu sóng, ngọn gió lập nên những chiến tích huy hoàng, được cơ quan quyền lực tối cao của đất nước quyết định lấy tên các lãnh tụ tài ba, những vị anh hùng lỗi lạc để đặt tên mới cho thành phố, thay thế tên gọi cũ đã được lưu hành trong Nhân dân. Việc vinh danh các vĩ nhân bằng cách đặt tên cho những vùng đất trọng điểm là cách để các quốc gia ghi nhận công lao to lớn và khắc sâu lý tưởng Cách mạng vào đời sống tinh thần của Nhân dân. Và thành phố Hồ Chí Minh là một trong những nơi như thế. Ngày 02/7/1976, Quốc hội khóa VI đã chính thức ban hành Nghị quyết đổi tên thành phố Sài Gòn - Gia Định thành thành phố Hồ Chí Minh. Quyết định lịch sử này thể hiện sự tôn kính với Chủ tịch Hồ Chí Minh và là biểu tượng cho tinh thần kiên cường của một đô thị đầu sóng ngọn gió.

Nhiều thành phố ở Liên Xô được đổi thành tên các lãnh tụ tài ba

Như chúng ta đã thấy, ở Bungari đã lấy tên đồng chí Dimitrov để đặt tên thành phố Dimitrovgrad. Ở Tiệp Khắc, đã lấy tên đồng chí Gốtvan để đổi tên thành phố Zling. Ở Nam Tư, đã lấy tên đồng chí Titô để đặt tên cho thành phố Titograd. Đặc biệt ở Liên Xô, trong thập niên thứ hai của thế kỷ 20 (1920 - 1930), đã có khoảng trên dưới 20 thành phố và thị trấn được đổi tên và đặt tên mới. Trong đó có 5 thành phố mang tên Lê-nin, 5 thành phố mang tên Xtalin. Trong khuôn khổ hạn hẹp của bài viết này, tôi chỉ đề cập tới hai thành phố có tầm quan trọng hàng đầu, được mang tên Lê-nin và Xtalin.

Thành phố thứ nhất, là Petrograd - "Thủ đô đỏ” của nước Nga, nơi thiết lập đại bản doanh Cách mạng trong "10 ngày làm rung chuyển thế giới" của cuộc Cách mạng tháng Mười. Đây là nơi thả neo của chiếc tuần dương hạm Rạng Đông trên sông Nê-va, đã nã những loạt đại bác vào Cung điện Mùa Đông để kết liễu chế độ Nga hoàng và khai sinh ra Nhà nước Xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới.

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tọa lạc tại công viên trước trụ sở UBND TPHCM

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tọa lạc tại công viên trước trụ sở UBND TPHCM

5 ngày trước khi Lê-nin vĩnh biệt cuộc đời tại làng Goóc-ki (vùng ngoại ô thành phố Mát-xcơ-va), Đại hội Xô Viết toàn Nga lần thứ hai vào ngày 16/01/1924 đã quyết định lấy tên Lê-nin để đặt tên cho thành phố Petrograd.

Hơn 100 năm qua, Leningrad đã chinh phục mạnh mẽ lòng ngưỡng mộ và sự tôn vinh của hàng tỷ người trên khắp hành tinh, bằng chiến công bất diệt của cuộc Cách mạng Xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga, bằng những chiến tích lẫy lừng đã đánh bại quân phát-xít Hít-le trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của Nhân dân Xô Viết (1941-1945). Năm tháng đã đi qua, thành phố mang tên Lê-nin sẽ vĩnh viễn trường tồn trong kiệt tác nghệ thuật âm nhạc của nhà soạn nhạc Xô Viết lừng danh Dmitri Shostakovich. Tác giả đặt tên kiệt tác này là "Giao hưởng số 7" hay "Giao hưởng thành phố Leningrad". Người đời ca ngợi đây là "thiên anh hùng ca của thế kỷ 20".

Một điều đáng để cho chúng ta ghi nhớ là, trong những ngày Đảng Cộng sản Nga và Nhà nước Xô Viết cử hành tang lễ Lê-nin và lấy tên Lê-nin để đặt cho thành phố Petrograd, báo Sự Thật của Đảng Cộng sản Nga đã đăng bài viết của đồng chí Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) thể hiện lòng kính yêu và mến mộ vô hạn của các dân tộc bị áp bức đối với Lê-nin qua bài "Lê-nin và các dân tộc thuộc địa" (báo Sự Thật, ngày 27/01/1924).

Sau khi thành phố Petrograd đổi tên được một năm, để tri ân và vinh danh công lao của Tổng Bí thư Xtalin - người kế tục sự nghiệp Cách mạng vĩ đại của Lê-nin, năm 1925, Xô Viết toàn Nga đã quyết định lấy tên Xtalin để đặt cho thành phố Tsaritsin - một thành phố nằm bên bờ Tây vùng hạ lưu sông Volga. Nơi đây nổi tiếng là dinh lũy và hang ổ của hàng vạn quân Bạch vệ cực kỳ phản động, sống không đội trời chung với chính quyền Xô Viết. Dựa vào sự tiếp tay nối giáo của bọn can thiệp nước ngoài, chúng đã điên cuồng chống phá nước Nga Cách mạng trong những năm nội chiến khốc liệt (1918 - 1921).

Nhờ bản lĩnh, khí phách và tài năng của mình, nhờ sự tận dụng ưu thế của lực lượng pháo binh và các đoàn quân kỵ mã thiện chiến của các đồng chí Vôrôsilốp, Buđiônưi, đồng chí Xtalin đã chỉ huy đánh tả tơi bọn Bạch vệ ở vùng hạ lưu sông Volga.

Qua tác phẩm văn học "Người thứ 41" xuất bản năm 1923 của Boris Lavrenyov, chúng ta đã thấy với 41 phát súng thiện xạ, người nữ chiến sĩ Hồng quân xinh đẹp Maríutca bắn bách phát bách trúng, đã hạ gục 41 tên lính Bạch vệ ở nơi hoang mạc Karakum và trên những thảo nguyên ở vùng Trung Á.

Hơn 60 năm trước đây, trong thời gian học tập và làm việc trên đất nước Xô Viết, tôi đã từng đến thăm thành phố Xtalingrat (Tsaritsin), rất hào hứng được nghe các chiến sĩ Cách mạng lão thành Nga say sưa kể lại những trận đánh thần kỳ do Xtalin, Vôrôsilốp, Buđiônưi cùng các chiến hữu ngồi trên lưng ngựa chiến tuốt gươm xông pha trận mạc.

Kiến nghị thư của 57 người gửi lên Quốc hội và Chính phủ năm 1946

Sau hơn 20 năm hai thành phố Petrograd và Tsaritsin được đổi tên trên quê hương của cuộc Cách mạng tháng Mười, đến mùa thu năm 1946, một thành phố đang rền vang tiếng súng kháng chiến trên mảnh đất quê hương của cuộc Cách mạng tháng Tám cũng đã được các tầng lớp Nhân dân kiến nghị với Quốc hội và Chính phủ để được đổi tên. Đó là thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn.

Tự hào và kiêu hãnh xiết bao! Vị lãnh tụ Cách mạng tài ba đã được các tầng lớp Nhân dân trên vùng đất "Thành đồng Tổ quốc" và được toàn thể đồng bào ở thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn tha thiết xin được lấy tên để đặt cho thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn, chính là người học trò trung thành vô hạn và tài năng lỗi lạc của Lê-nin trên đất nước Việt Nam đầy máu lửa. Đó là đồng chí Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, đó là Bác Hồ vô vàn kính yêu của chúng ta!

Việc đổi tên hàng loạt thành phố trên đất nước Nga Xô Viết, hay ở các nước Đông Âu và sự thỉnh nguyện đổi tên thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn, là một chuỗi sự kiện về chính trị nối tiếp nhau xuất hiện sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, với sự ra đời của hàng loạt nước dân chủ Nhân dân từ sông Đa-nuýp đến sông Trường Giang, từ thủ đô Hà Nội đến thủ đô Tirana của Albani. Đây là sự thể hiện giai đoạn thăng hoa trong lịch sử phát triển của phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế cùng các phong trào giải phóng dân tộc. Đúng vậy, trong cuộc họp mặt lịch sử của 57 người tại Hà Nội ngày 27/8/1946 để ký tên vào bản kiến nghị trình lên Quốc hội và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khẩn thiết đề nghị đổi tên ngay thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn thành tên thành phố Hồ Chí Minh, chúng ta đã được nghe những sự lý giải rõ ràng.

Bác sĩ Trần Hữu Nghiệp - người đề xuất chủ trương viết kiến nghị và là người đầu tiên ký tên vào văn bản này, đã trình bày như sau: Việc viết bản kiến nghị này, trước hết xuất phát từ lòng ái mộ và sự kính yêu vô hạn của Nhân dân ta đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người là linh hồn, tinh hoa và khí phách của dân tộc ta, là vị đại Anh hùng của đất nước ta. Việc viết bản kiến nghị này, còn là sự thể hiện cách làm của chúng ta "lấy tên Anh hùng dân tộc để đặt tên cho thành phố lớn", như những nước lớn hay làm.

Sau 50 năm mang tên Bác Hồ kính yêu, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục vươn mình đổi mới và khẳng định là đầu tàu kinh tế của cả nước

Sau 50 năm mang tên Bác Hồ kính yêu, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục vươn mình đổi mới và khẳng định là đầu tàu kinh tế của cả nước

Nhằm nâng cao sĩ khí chiến đấu và nhân lên sức mạnh về nhân tố chính trị và tinh thần, trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp trên chiến trường Nam Bộ, ngoài việc xin đổi tên thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn, chúng ta còn chủ trương lấy tên những nhân vật lịch sử lỗi lạc để đặt tên cho một số địa phương. Vì vậy, chính quyền Cách mạng ở tỉnh Bến Tre đã lấy tên cụ Đồ Chiểu để đặt tên cho tỉnh mình - tỉnh Đồ Chiểu (1945-1949).

Qua sự giao lưu với độc giả, tôi được biết có một vấn đề mà bạn đọc trẻ đã và đang quan tâm tìm hiểu. Đó là vì sao trong bản kiến nghị xin đổi tên thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn thành thành phố Hồ Chí Minh, những người đồng đứng tên đã viết: "Việc xin đổi tên thành phố Sài Gòn thành tên thành phố Hồ Chí Minh là tượng trưng cho sự kiên quyết trở về với Tổ quốc của Nhân dân Nam Bộ".

Về vấn đề này, Bác Hồ đã từng nói rõ. Sau hai tháng kiến nghị thư của 57 người gửi lên Quốc hội và Chính phủ, ngày 23/11/1946, lúc sang nước Pháp trở về, trong Lời tuyên bố với quốc dân đồng bào, Bác Hồ đã nói: "Tôi trân trọng hứa với toàn thể Nhân dân, Nam Bộ yêu quý nhất định trở lại trong lòng Tổ quốc. Trung Nam Bắc đều là nước Việt Nam. Chúng ta đều chung một tổ tiên, dòng họ, đều là máu thịt, anh em. Nước có Trung Nam Bắc cũng như một nhà có ba anh em. Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu đau khổ, là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên".

Nhớ lại nửa năm trước đó, trước khi lên đường sang Paris để đàm phán, Bác Hồ đã dốc cạn tâm tình để nói với Nhân dân bằng những lời tâm nguyện làm xúc động lòng người sâu sắc, Bác nói: "Đồng bào hãy tin tôi, Hồ Chí Minh không phải là người bán nước". Hai chữ "bán nước" mà Bác Hồ muốn nói với toàn dân, là sự bán rẻ vùng đất Nam Bộ thiêng liêng cho bọn thực dân phản động Pháp.

Qua những lời tuyên bố bất hủ trên đây của Bác Hồ, toàn dân ta thấy rõ, sở dĩ đồng bào Nam Bộ thể hiện mãnh liệt tình cảm thiêng liêng của mình muốn "trở về với Tổ quốc" và sở dĩ Bác Hồ khẳng định trước sau như một rằng: "Nam Bộ yêu quý nhất định trở lại trong lòng Tổ quốc". Đó là vì, thực dân Pháp thực hiện dã tâm tìm trăm phương nghìn kế để chia cắt đất nước ta, làm cho non sông gấm vóc Việt Nam bị chia năm xẻ bảy, làm cho quê hương ta lâm vào cảnh "con không cùng một cha", "nhà không cùng một nóc" như nhà thơ Tố Hữu đã viết:

"Chúng ta là con cùng một cha, là nhà cùng một nóc

Thịt với xương và tim óc dính liền"

"Con cùng một cha" - người cha đó, là Chủ tịch Hồ Chí Minh, được quốc dân tri ân và tôn vinh là "Cha già dân tộc". "Nhà cùng một nóc" - nóc nhà ấy, là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ra đời trong cuộc Cách mạng tháng Tám mùa thu năm 1945. Đúng như đồng chí Phạm Văn Đồng đã viết: "Đồng bào Nam Bộ, bộ phận giàu tình cảm nhất của dân tộc, gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh là cha già, đó là lời tận đáy lòng kính mến thốt ra".

Những sử liệu trên đây giúp cho chúng ta thấy rõ, giá trị tinh hoa về tư tưởng trong thư kiến nghị của đồng bào Nam Bộ trình lên Quốc hội và Chính phủ xin được đổi tên thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn thành tên thành phố Hồ Chí Minh, là sự thể hiện ước vọng thiết tha và tấm lòng son sắt của toàn dân trên mảnh đất quê hương thân yêu của cụ Đồ Chiểu, trong cuộc đấu tranh quyết tử chống giặc Pháp xâm lăng, để được trở về giữa lòng Tổ quốc mến yêu và trong vòng tay ấm áp của Bác Hồ.

"Sự cương quyết trở về với Tổ quốc" của nhân dân Nam bộ

Bằng lòng yêu nước nồng nàn và sự dày công nghiên cứu của Bác Hồ, chúng ta thấy rõ từ hơn một trăm năm trước đây, Bác đã gắn chặt yêu cầu thống nhất lãnh thổ với yêu cầu giải phóng dân tộc trên đất nước ta. Trong cuốn "Bản án chế độ thực dân Pháp", Người đã viết: "Nước Việt Nam là một khối thống nhất, có chung một dân tộc, chung một dòng máu, chung một lịch sử, chung một truyền thống, chung một tiếng nói".

Lịch sử chống giặc ngoại xâm trên đất Việt Nam đã xác nhận rằng, khi tiến hành thôn tính nước ta lần thứ hai vào mùa thu năm 1945, bọn thực dân Pháp đã đi theo đường xưa lối cũ và áp dụng những bài bản cũ mà 83 năm trước đó chúng đã làm. Đó là trước tiên xâm chiếm Nam Bộ, biến vùng đất này thành hậu cứ, thành kho hậu cần chiến tranh và làm bàn đạp để tiến quân thôn tính cả hai miền Trung - Bắc.

Thật không thể nào tin nổi, ngay trong những ngày đầu nổ súng tái chiếm thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn, giặc Pháp đã ngang nhiên buộc chúng ta phải để cho chúng lập ra nước "Nam Kỳ tự trị” và cái gọi là "Liên bang Đông Dương thuộc Pháp" gồm có Lào, Campuchia, Nam Kỳ, Nam Trung Kỳ và Tây Nguyên. Điều này đã làm xúc phạm đến tột cùng tình cảm thiêng liêng của Nhân dân ta, một dân tộc đã có hơn bốn nghìn năm lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm.

Nhìn thấu tim gan của thực dân Pháp, bốn ngày trước khi Nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn nổ súng kháng chiến, Ủy ban Nhân dân Nam Bộ đã ra Lời kêu gọi đồng bào: "Nếu người Pháp đem quân đánh chiếm nước ta, biến nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành xứ bảo hộ thuộc địa, dù dưới mặt nạ tự trị nào đi nữa, thì quốc dân phải theo lệnh của Chính phủ kháng chiến tới cùng, đến ngày toàn thắng". Đồng bào ta đã đứng lên nhất tề hành động theo lời hiệu triệu ấy.

Một điều đáng để cho chúng ta suy ngẫm là, trong cuộc tái chiếm Nam Bộ lần thứ hai này, thực dân Pháp đã quyết liệt sử dụng cả hai biện pháp về quân sự và về chính trị để chia cắt đất nước ta. Chúng ta đã thấy ý đồ đen tối của giặc qua hai cuộc hội nghị giữa Pháp với phái đoàn ta sang Pari ngày 16/01/1946 và cuộc họp giữa đoàn đại biểu của Chính phủ ta do đồng chí Võ Nguyên Giáp dẫn đầu cùng phái đoàn Pháp diễn ra tại Đà Lạt. Chúng đòi tách Nam Bộ khỏi Việt Nam và đòi lập lại chế độ toàn quyền Đông Dương. Trong những tháng đầu năm 1946, chúng đã đàn áp, bắt bớ 2.700 người yêu nước phản đối "nước Nam Kỳ tự trị”.

Tệ hại hơn, trong thời gian Bác Hồ và phái đoàn Chính phủ ta sang Pháp tiến hành đàm phán, bọn Pháp đã nhắm mắt làm liều. Từ cuối mùa xuân đến mùa thu năm 1946, chúng đã ráo riết lập ra những cái gọi là: Hội đồng tư vấn Nam Kỳ, Chính phủ lâm thời Cộng hòa tự trị Nam Kỳ, nước Nam Kỳ, Đảng Nam Kỳ, Mặt trận Nam Kỳ, Mặt trận bình dân Nam Kỳ, Đảng Đông Dương tự trị, Đảng Dân chủ Nam Kỳ... Chúng còn điều quân đánh chiếm Tây Nguyên để nặn ra chiếc bánh vẽ gọi là Liên bang Đông Dương thuộc Pháp.

Ở Sài Gòn - Chợ Lớn, chúng thuê những đám lưu manh và bọn đàng điếm xuống đường la ó: "Nam Kỳ của người Nam Kỳ”; "Bắc Kỳ xâm lược Nam Kỳ”; phá phách các cửa hàng của người Bắc, người Trung; đòi trục xuất người Bắc Kỳ ra khỏi đất Nam Kỳ...

Đến nay thời gian đã trôi qua đúng 80 năm. Hồi tưởng lại những năm tháng đau thương và cay đắng ấy, người nhà tôi lên thăm thành phố Sài Gòn, đã về kể chuyện như sau: Trên đường vào sân bay Tân Sơn Nhất, bọn Pháp đã lập ra cổng để kiểm tra. Hễ ai nói tiếng Tân Sơn Nhất theo giọng người Nam Kỳ thì chúng cho đi qua. Hễ ai nói tiếng Tân Sơn Nhất bằng giọng của người Bắc Kỳ thì bị chúng buộc phải quay trở lại.

Như vậy đó, đây chính là những giọt nước cuối cùng đã làm tràn ly. Điều này đã gây phẫn nộ lớn trong toàn dân ta. Ngày 27/6/1946, trên khắp đất nước ta đã diễn ra các cuộc bãi công, không hợp tác, bãi thị, bãi khóa, mít tinh, biểu tình để phản đối bọn thực dân Pháp. Hàng triệu người xuống đường để hưởng ứng "Ngày Nam Bộ", hô vang khẩu hiệu: "Nam Bộ là của Việt Nam!", "Đả đảo chính phủ Nam Kỳ tự trị”... Ngày 26/7/1946, tại phiên họp toàn thể giữa ta và Pháp tại Hội nghị Fontainebleau, đồng chí Dương Bạch Mai đã nói thẳng với Pháp: "Chừng nào mà Nam Bộ, bằng cách này hay cách khác tách khỏi Việt Nam thì không thể có sự thỏa thuận nào giữa nước Pháp và nước Việt Nam".

Trước những dã tâm của bọn thực dân Pháp ra sức phá vỡ sự thống nhất về lãnh thổ của đất nước ta và khối đại đoàn kết của Nhân dân ta, Xứ ủy Nam Bộ và Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ dưới sự chỉ đạo của Trung ương, đã ra sức tận dụng sức mạnh tổng hợp của hai mũi đấu tranh giáp công về quân sự và chính trị để vô hiệu hóa hành động của kẻ thù.

Về mặt quân sự, phát huy sức mạnh về tư tưởng và nhân tố tinh thần, chúng ta đã tổ chức cho các chiến sĩ biệt động, quân cảm tử, lực lượng Công an xung phong và các đội công tác thành theo dõi sát sao để kịp thời trừng trị những tên Việt gian mê muội bán rẻ linh hồn cho thuyết Nam Kỳ tự trị của giặc Pháp. Chúng ta đã thấy, những tên ủy viên Hội đồng tư vấn Nam Kỳ Nguyễn Văn Thạch, Trần Tuấn Phát, Nguyễn Thượng Hiền... đã lần lượt bị thẳng tay trừng trị sau khi "nước Nam Kỳ” vừa mới xuất đầu lộ diện. Đặc biệt, những phát súng lục 6,35 ly từ trong chiếc ví đầm nhỏ xíu của người đẹp 17 tuổi, nữ chiến sĩ cảm tử huyền thoại Nguyễn Thị Lan hạ gục tên Hiền Sĩ trên đường Bôna, bên hông chợ Bến Thành ngày 12/3/1946, đã làm rúng động thành phố Sài Gòn. Hiền Sĩ là chủ bút tờ báo phản động Phục hưng, tuy đã bị cảnh cáo nhiều lần, nhưng hắn vẫn không quay đầu tỉnh ngộ, ra sức truyền bá điên cuồng cho thuyết Nam Kỳ tự trị.

Cùng với việc tổ chức thực hiện mũi đấu tranh giáp công về quân sự; về chính trị, lợi dụng hình thức hợp pháp và bán hợp pháp, chúng ta đẩy mạnh hoạt động của mặt trận báo chí công khai với: Phong trào báo chí thống nhất phản đối Nam Kỳ tự trị, phản đối chia cắt đất nước, công nhận chỉ có một Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, công nhận chỉ có một Chính phủ, Chính phủ do Cụ Hồ Chí Minh đứng đầu. Thuộc báo chí thống nhất có khoảng 17 tờ báo: Tin Điển, Tân Việt, Nam Kỳ, Việt Bút, Justice, Sud, Trung Lập, Quần Chúng, Dư Luận, Dân Quyền, Dân Thanh, Ánh Sáng, Thời Báo, Tân Sinh, Sài gòn Mới, Lendemains.

Thắng lợi lớn nhất trên mặt trận đấu tranh chính trị để góp phần đánh bại âm mưu của thực dân Pháp trong sự chia cắt đất nước ta, đó là việc Đảng ta tổ chức thắng lợi cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 06/01/1946. Đúng như Bác Hồ đã nói: Mỗi lá phiếu của cử tri trong cuộc bầu cử này là một viên đạn bắn vào quân thù.

Mặc dù bị giặc Pháp thẳng tay đàn áp khủng bố, nhưng đồng bào ta vẫn đi đến các thùng phiếu với tinh thần quả cảm, với lòng yêu nước nồng nàn. Ở thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn, đã có 40.000 người đi bỏ phiếu và đã có tới 42 cán bộ hy sinh khi đang thực thi nhiệm vụ, trong số đó có đồng chí Nguyễn Văn Tư - Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn. Ở Tân An, máy bay chiến đấu của Pháp xả súng bắn vào nơi quần chúng đi bỏ phiếu, làm cho 12 người chết và bị thương, nhiều nơi phải đi bỏ phiếu ban đêm, vậy mà đã có đến 90% cử tri đi bỏ phiếu. Tại các tỉnh Miền Trung và Miền Tây Nam Bộ như Mỹ Tho, Cần Thơ... đều xảy ra tình hình tương tự.

Xiết bao tự hào và kiêu hãnh

Tuy bị kẻ thù dìm trong máu lửa, những cuộc bầu cử trên chiến trường Nam Bộ đã mang lại những kết quả thật bất ngờ. Ở thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn và tại 19 tỉnh trong vùng, ta bầu được 73 đại biểu Quốc hội của khóa I. Đây là bằng chứng hùng hồn xác minh trước Nhân dân Pháp và Nhân dân thế giới về ý chí thống nhất sắt đá của đồng bào ta và tư tưởng đại đoàn kết dân tộc "rắn như thép, vững như đồng" của Nhân dân ta.

Năm tháng đã đi qua, giờ đây nhớ lại những thời khắc không thể nào quên của 80 năm về trước, khi 57 người thay mặt cho đồng bào Nam Bộ ký tên vào quyết tâm thư trình lên Quốc hội và Chính phủ xin được đổi tên thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn thành thành phố Hồ Chí Minh, chúng ta xiết bao tự hào và kiêu hãnh.

Đẹp đẽ biết bao, từ việc tổ chức các "Phòng Nam Bộ", "Ngày Nam Bộ" trên khắp cả hai miền Trung - Bắc đến việc tổ chức tiễn đưa những đoàn quân Nam tiến rời ga Hàng Cỏ gấp rút lên đường chi viện cho chiến trường Nam Bộ. Từ những phát súng để đời của nữ chiến sĩ cảm tử Nguyễn Thị Lan đến thành tích chiến đấu ngoan cường của các Ban công tác thành trừng trị những tên Việt gian mê muội bán mình cho nước Nam Kỳ tự trị. Từ việc Bộ Tư lệnh Quân khu 9 quyết định lấy tên Bác Hồ để đặt tên cho đơn vị bộ đội chiến đấu ngoan cường của đồng chí Nguyễn Hùng Phước (tháng 6/1946), đến việc Đội trưởng Đội công tác thành Nguyễn Đình Chính và họa sĩ Diệp Minh Châu đã tự chích tay lấy máu mình để viết huyết thư và vẽ huyết họa gửi lên Bác Hồ. Từ việc tổ chức thành công các cuộc bãi công, bãi khóa, bãi thị, mít-tinh, biểu tình, bất hợp tác với giặc đến việc xây dựng được mạng lưới báo chí thống nhất giữa lòng thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn để chống lại âm mưu chia để trị của kẻ thù... Chính những sự kiện lịch sử này đã tạo nên chiếc vòng treo cổ tự tử giết chết tên Thủ tướng bù nhìn Nguyễn Văn Thinh.

Trên báo Cứu quốc - cơ quan ngôn luận của Tổng bộ Việt Minh, số phát hành ngày 27/8/1948, trong một bài viết đã thông tin: "Thành phố Sài Gòn từ nay sẽ đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh". Tuy nhiên phải đợi đến 30 năm sau, vào ngày 02/7/1976, thành phố Sài Gòn - Gia Định mới được chính thức mang tên Bác Hồ, theo Quyết định của kỳ họp Quốc hội lịch sử của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Hồ Chí Minh - tên đẹp và cao quý của Bác Hồ vĩ đại, Quốc hội đã dành cho Nam Bộ - Tổ quốc thành đồng, "đi trước về sau", dành cho Sài Gòn - Gia Định đã góp phần xứng đáng làm nên mùa Xuân đại thắng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mang tên Người.

TRẦN HỮU PHƯỚC

Nguồn CA TP.HCM: http://congan.com.vn/tin-chinh/quang-vinh-thay-thanh-pho-mang-ten-bac-ho-muon-van-kinh-yeu_194863.html