Quốc hội kiến tạo phát triển - thể chế hóa nghị quyết của Đảng và hành động thực tiễn
Nghị quyết của Đảng đã xác lập định hướng đổi mới mô hình phát triển Việt Nam tự cường, sáng tạo và bền vững. Để hiện thực hóa đường lối chiến lược này, Quốc hội giữ vai trò trung tâm trong việc chuyển đổi tư duy lập pháp từ “quản lý” sang “kiến tạo”, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và khơi thông mọi nguồn lực cho đất nước.
Quốc hội kiến tạo phát triển - thể chế hóa nghị quyết của Đảng và hành động thực tiễn
TS. Trần Văn, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách khóa XIII
Nghị quyết của Đảng đã xác lập định hướng đổi mới mô hình phát triển Việt Nam tự cường, sáng tạo và bền vững. Để hiện thực hóa đường lối chiến lược này, Quốc hội giữ vai trò trung tâm trong việc chuyển đổi tư duy lập pháp từ “quản lý” sang “kiến tạo”, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và khơi thông mọi nguồn lực cho đất nước.
Các trọng tâm thể chế hóa mô hình phát triển mới
Nghị quyết số 19-NQ/TW ban hành ngày 28/7/2026 tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV là văn kiện chiến lược, xác lập định hướng đổi mới mô hình phát triển Việt Nam tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập. Nghị quyết đòi hỏi sự chuyển mình mạnh mẽ của toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó, Quốc hội giữ vai trò trung tâm trong việc biến các chủ trương, đường lối của Đảng thành thể chế pháp lý đồng bộ, hiện đại và khả thi.
Để sớm đưa các nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, Quốc hội cần tuân thủ nguyên tắc cốt lõi, đó là chuyển đổi tư duy lập pháp từ "quản lý" sang "kiến tạo phát triển" để quá trình thể chế hóa không đơn thuần là cụ thể hóa nghị quyết của Đảng thành các điều khoản luật, mà là quá trình tháo gỡ điểm nghẽn, giải phóng toàn bộ lực lượng sản xuất và mở đường cho các mô hình kinh tế mới, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Đồng thời, phải bảo đảm tính toàn diện, đồng bộ và có tầm nhìn vượt trội vì mô hình phát triển mới đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng - an ninh và đối ngoại. Hệ thống pháp luật được ban hành phải vừa có tính ổn định dài hạn, vừa linh hoạt, phản ứng chính xác trước sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và địa chính trị, địa kinh tế toàn cầu. Quốc hội có thể rút gọn quy trình để đưa các quyết sách của Đảng vào cuộc sống nhanh nhất nhưng phải luôn bảo đảm chất lượng lập pháp.

Quang cảnh Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Để xác lập bước chuyển dịch mô hình tăng trưởng dựa vào năng suất, tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, Quốc hội cần tập trung hoàn thiện khung pháp lý cho khoa học, công nghệ bắt đầu từ việc rà soát, sửa đổi toàn diện các luật có liên quan đến khoa học, công nghệ, sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ đến ban hành các chính sách mới ưu đãi đặc thù về thuế, tài chính, đất đai để hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế mạnh vươn ra chuỗi giá trị toàn cầu.
Đảng ta đã xác định chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và tự chủ chiến lược là những động lực tăng trưởng mới nên Quốc hội cần chú ý hoàn thiện pháp luật về phát triển xanh và ứng phó biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng và chuyển dịch năng lượng. Để bảo đảm tự chủ chiến lược chuỗi cung ứng cần có các chính sách ưu đãi đối với các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp phụ trợ, công nghệ bán dẫn và vật liệu mới nhằm giảm phụ thuộc vào bên ngoài.
Về đất đai và nguồn lực phát triển, Quốc hội đang tích cực sửa đổi các luật có liên quan theo hướng các nguồn lực quốc gia phải được phân bổ theo cơ chế thị trường, ưu tiên cho các dự án phát triển công nghệ cao, hạ tầng xanh và công nghiệp hiện đại, tăng tính linh hoạt cho địa phương, áp dụng mô hình đầu tư công - quản trị tư, tư nhân đầu tư - Nhà nước sử dụng dịch vụ (PPP thế hệ mới).
Cuối cùng là thể chế hóa mô hình tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, vận hành hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 2 cấp gắn với hoàn thiện pháp luật về dữ liệu và Chính phủ số, chống lãng phí và vừa bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung đồng thời siết chặt kỷ cương, quy trách nhiệm rõ ràng đối với hành vi nhũng nhiễu, chậm trễ.
Đổi mới hoạt động của Quốc hội trong mô hình phát triển mới
Để hoàn thành khối lượng công việc lập pháp đồ sộ và phức tạp nêu trên, bản thân Quốc hội khóa XVI đang có bước đổi mới sâu sắc, bắt đầu bằng Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất vừa qua. Để hiện thực hóa Nghị quyết số 19-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển, sự chuyển mình đó đang được cụ thể hóa bằng các hành động, quy trình và cơ chế thực thi sắc bén đối với từng chức năng hiến định: lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.
Lập pháp là công cụ chính để thể chế hóa Nghị quyết. Trong mô hình phát triển mới dựa vào trí tuệ, công nghệ và chuyển đổi xanh, tư duy lập pháp của Quốc hội cần tập trung vào áp dụng kỹ thuật lập pháp linh hoạt và hiện đại, cụ thể hóa các đạo luật mũi nhọn phục vụ mô hình mới.

Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI. Ảnh: Quang Khánh
Quốc hội chuyển từ giám sát "phát hiện sai phạm" sang "thúc đẩy hiệu quả thực thi", đóng vai trò là "thước đo" tính hiệu quả của mô hình phát triển mới, bảo đảm các chính sách ban hành không bị nghẽn ở khâu thực thi, nhất là ở các nội dung đột phá như giám sát giải ngân đầu tư công hạ tầng chiến lược, giám sát việc cải cách thủ tục hành chính, giám sát các chương trình mục tiêu quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Các hoạt động giám sát được ứng dụng công nghệ và dữ liệu số, mở rộng giải trình tại các Ủy ban, tại các cuộc họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, có cơ chế "hậu giám sát" sòng phẳng, có thể dẫn tới xem xét bỏ phiếu tín nhiệm đối với người đứng đầu.
Quốc hội cụ thể hóa chức năng quyết định các vấn đề quan trọng, nhất là trong định hướng nguồn lực cho tương lai, quyết định các mục tiêu dài hạn, phân bổ ngân sách và các dự án quốc gia nhằm tạo bệ phóng cho mô hình tăng trưởng mới. Tăng tỷ trọng chi cho đầu tư phát triển, đặc biệt là đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, hạ tầng số, đào tạo nhân lực chất lượng cao, gắn ngân sách với kết quả đầu tư, quyết định các cơ chế tài chính và dự án trọng điểm quốc gia, thông qua các gói chính sách ưu đãi đặc thù, quyết định chủ trương đầu tư các dự án nền tảng, nhất là các dự án đường sắt, điện hạt nhân, vệ tinh viễn thông, hệ thống lưu trữ năng lượng quốc gia…
Ba chức năng của Quốc hội là một vòng tuần hoàn khép kín. Trong khi lập pháp tạo ra hành lang pháp lý và công cụ cho mô hình phát triển mới, thì quyết định các vấn đề quan trọng tập trung nguồn lực vào đúng các trụ cột đổi mới và giám sát kiểm tra quá trình thực thi, phát hiện lỗ hổng để tiếp tục sửa đổi luật và điều chỉnh nguồn lực. Việc thực thi đồng bộ, sắc bén ba chức năng này chính là chìa khóa để Quốc hội đưa các nghị quyết của Đảng từ định hướng chiến lược trở thành động lực phát triển mới của đất nước.
Nếu xét từ yêu cầu đổi mới mô hình phát triển, Quốc hội khóa XVI đang chủ động nâng cao năng lực định hình, kích hoạt và dẫn dắt quyền sáng kiến lập pháp. Theo Điều 84 Hiến pháp 2013 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quyền sáng kiến lập pháp thuộc về nhiều chủ thể và trên thực tế Quốc hội thường rơi vào thế khá "thụ động". Việc Quốc hội chủ động đưa ra sáng kiến lập pháp sẽ mở đường cho các mô hình kinh tế mới, đồng thời bảo đảm tính khách quan, vì lợi ích chung của người dân và doanh nghiệp cũng như nhanh chóng thích ứng với sự thay đổi của mô hình phát triển mới dựa trên khoa học, công nghệ.

Nguồn: congthuong.vn
Việc kích hoạt quyền sáng kiến lập pháp của các chủ thể này sẽ giúp Quốc hội dẫn dắt chương trình xây dựng pháp luật, thay vì chỉ đóng vai trò "chờ hồ sơ trình sang". Quốc hội có thể mạnh dạn chuyển từ "sáng kiến trình dự luật" sang "sáng kiến định hướng chính sách" dựa trên việc đặt hàng chính sách đối với Chính phủ, thay vì chỉ lập chương trình dựa trên những gì Chính phủ đăng ký và Quốc hội đưa ra khung tiêu chuẩn, thời hạn bắt buộc Chính phủ phải soạn thảo luật đối với các lĩnh vực mới quan trọng.
Quốc hội không thay thế Chính phủ trong việc soạn thảo toàn bộ các đạo luật, nhưng cần chủ động về mặt sáng kiến và định hướng lập pháp; chủ động đề xuất, đặt hàng và chuyển từ vị thế "thẩm tra thụ động" sang "kiến tạo chính sách" để thể chế thực sự trở thành "bệ phóng" cho đổi mới mô hình phát triển đất nước.
Quyết sách đã rõ, mô hình phát triển mới đã được định hình. Việc các nghị quyết của Đảng có nhanh chóng đi vào cuộc sống hay không phụ thuộc trực tiếp vào sự đổi mới sâu sắc và tính chủ động của Quốc hội. Nhân dân và cử tri cả nước kỳ vọng vào sứ mệnh của Quốc hội khơi thông hành lang pháp lý, tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế và bảo vệ tinh thần đổi mới sáng tạo, trực tiếp kiến tạo không gian phát triển, mở đường cho một Việt Nam bứt phá bền vững trong tương lai.

