Quốc tế hóa đại học: Tạo năng lực để thế giới tìm đến Việt Nam

Hiện Việt Nam đã hình thành dòng chảy người học khá mạnh ra thế giới, nhưng khả năng thu hút người học, giảng viên và các hoạt động nghiên cứu quốc tế vào Việt Nam vẫn còn khiêm tốn. Bài toán đặt ra không chỉ là đưa nhiều người Việt ra nước ngoài hơn, mà phải từng bước biến các trường đại học trong nước thành những điểm đến có sức hút trên bản đồ giáo dục khu vực.

 Phòng thí nghiệm hiện đại tại Trường Đại học VinUni nhằm phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu. Ảnh: VinUni

Phòng thí nghiệm hiện đại tại Trường Đại học VinUni nhằm phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu. Ảnh: VinUni

Muốn quốc tế hóa, phải tạo sức hút

Sinh viên Việt Nam ra nước ngoài học tập là một thành tố quan trọng của hội nhập giáo dục, giúp người học tiếp cận chương trình đào tạo, phương pháp nghiên cứu, công nghệ và mạng lưới học thuật quốc tế. Tuy nhiên, quốc tế hóa không thể chỉ được đo bằng số lượng người Việt Nam đi học ở nước ngoài.

Theo bà Phạm Thanh Hảo, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học VinUni, Việt Nam hiện có khoảng 250.000 sinh viên đi du học nhưng chỉ đón khoảng 22.000 sinh viên quốc tế. Trong khi đó, Malaysia đón khoảng 130.000 sinh viên quốc tế và có khoảng 55.000 người học ra nước ngoài. Bà Phạm Thanh Hảo cho rằng Việt Nam đang ở trạng thái “nhập khẩu ròng” tri thức, trong khi một số quốc gia trong khu vực đã hình thành năng lực xuất khẩu giáo dục.

Thực tế ở nhiều trường cho thấy dư địa còn rất lớn. Theo số liệu từ QS World University Rankings – Asia 2026, 25 cơ sở giáo dục đại học Việt Nam có thứ hạng cao ở châu Á đều có tỷ lệ sinh viên quốc tế dưới 1,1%. Chẳng hạn, Đại học Quốc gia Hà Nội có 262 sinh viên quốc tế trên hơn 60.800 sinh viên, tương đương khoảng 0,43%; Đại học Quốc gia TPHCM có 249 sinh viên quốc tế trên 97.101 sinh viên, khoảng 0,26%.

Nghiên cứu về quốc tế hóa giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2001-2020 của Nguyễn Thị Huyền Trang (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội) cũng cho thấy quá trình này đã phát triển trên nhiều phương diện, từ hợp tác giáo dục, trao đổi sinh viên, chương trình liên kết đến quốc tế hóa chương trình giảng dạy và nghiên cứu. Tuy nhiên, số sinh viên quốc tế đến Việt Nam vẫn khiêm tốn so với số người Việt Nam học tập ở nước ngoài.

Bài toán vì thế không phải là giảm dòng người học ra thế giới, mà là tạo thêm dòng chảy theo chiều ngược lại. Theo các chuyên gia, một trong những nguyên nhân khiến tỷ lệ sinh viên quốc tế tại Việt Nam còn thấp là nhiều trường chưa chuẩn hóa chương trình đào tạo bằng tiếng Anh, chưa làm tốt việc quảng bá chương trình, văn hóa và môi trường sống.

Một nghiên cứu của nhóm tác giả thuộc Đại học Quốc gia TPHCM về các yếu tố thu hút sinh viên quốc tế cũng cho thấy việc lựa chọn điểm đến học tập chịu tác động bởi nhiều yếu tố, không chỉ học phí hay chương trình đào tạo mà còn môi trường học tập, danh tiếng, dịch vụ hỗ trợ và những điều kiện giúp sinh viên quốc tế thích nghi với cuộc sống tại nước sở tại.

Vì vậy, quốc tế hóa phải bắt đầu từ chất lượng cốt lõi của trường đại học. PGS.TS Nguyễn Văn Hiếu, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng, cho rằng nếu hợp tác chỉ dừng ở ký kết hoặc giao lưu thì khó tạo tác động lâu dài. Theo đó, mỗi hoạt động hợp tác quốc tế trước hết cần trả lời được câu hỏi: hợp tác để giải quyết vấn đề gì, phục vụ nhóm người học nào và đóng góp như thế nào cho chiến lược phát triển của nhà trường. Các trường đại học Việt Nam cần chuyển từ tư duy nhập khẩu mô hình sang đồng thiết kế, trong đó không chỉ tiếp nhận kinh nghiệm quốc tế mà còn tham gia với tư cách một đối tác có năng lực đóng góp tri thức, kinh nghiệm và giải pháp của mình. Kinh nghiệm quốc tế có thể là nguồn tham khảo, nhưng cần được nghiên cứu, thử nghiệm và điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh Việt Nam.

Đây cũng là hướng được xác định trong Đề án Hội nhập quốc tế trong giáo dục và đào tạo đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 1600/QĐ-TTg ngày 19/12/2024. Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030 nâng tỷ lệ sinh viên quốc tế theo học các chương trình giáo dục đại học lấy bằng của Việt Nam lên 1,5%; tăng tỷ lệ giảng viên Việt Nam ra nước ngoài và giảng viên nước ngoài đến Việt Nam giảng dạy, nghiên cứu, trao đổi học thuật hằng năm lên 8%; trên 80% cơ sở giáo dục đại học có ít nhất 3 đề tài, chương trình nghiên cứu chung hoặc dự án hợp tác với nước ngoài mỗi năm

Hợp tác để cùng tạo giá trị

Quốc tế hóa theo chiều sâu trước hết phải được thể hiện trong những gì người học được tiếp nhận ngay tại trường đại học Việt Nam.

Tại Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng, PGS.TS Đặng Hữu Mẫn, Trưởng phòng Đào tạo Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng cho biết, các thỏa thuận hợp tác được triển khai theo hướng tạo hoạt động cụ thể, gắn với chất lượng chương trình. Sinh viên kiểm toán được tiếp cận nội dung của ACCA, sinh viên kế toán theo định hướng ICAEW, trong khi các ngành ngoại thương và logistics gắn với chuẩn FIATA.

Ở các lĩnh vực như khoa học dữ liệu, hệ thống thông tin quản lý và FinTech, doanh nghiệp tham gia xây dựng học phần, cung cấp dữ liệu, bài toán thực tế và hướng dẫn sinh viên giải quyết vấn đề. Như vậy, quốc tế hóa không chỉ nằm ở việc sinh viên đi đâu hay gặp ai, mà thể hiện trong năng lực mà người học có được sau quá trình đào tạo.

Hơn 250.000 người Việt đang học tập ở nước ngoài, trong khi số sinh viên quốc tế học tập tại Việt Nam chỉ khoảng 22.000 người mỗi năm, chiếm khoảng 1% tổng số sinh viên. Những con số này cho thấy nghịch lý trong quá trình quốc tế hóa giáo dục đại học.

Đội ngũ giảng viên cũng là một mắt xích quan trọng. Trường Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng có khoảng 10 giảng viên từng được các trường đại học nước ngoài mời thỉnh giảng hoặc đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh với giáo sư quốc tế. Theo PGS.TS Nguyễn Văn Hiếu, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng, việc giảng viên Việt Nam được mời giảng dạy, nghiên cứu và trao đổi học thuật ở nước ngoài vừa giúp tiếp nhận tri thức, vừa mở rộng khả năng chia sẻ năng lực và kinh nghiệm của Việt Nam với cộng đồng học thuật quốc tế.

Muốn thu hút sinh viên và nhà khoa học quốc tế, các trường vì thế phải có những chương trình đào tạo, nhóm nghiên cứu và lĩnh vực học thuật đủ sức hấp dẫn. Đây có thể là những lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, công nghệ số, bán dẫn, y tế, kinh tế biển, nông nghiệp công nghệ cao, biến đổi khí hậu hay các vấn đề phát triển đặc thù của Việt Nam và khu vực.

PGS. Nghiêm Xuân Huy, Giám đốc Viện Đào tạo số và Khảo thí, Đại học Quốc gia Hà Nội, lưu ý rằng những cách thức chạy theo thứ hạng có thể tạo ra kết quả tức thời nhưng không bảo đảm phát triển bền vững. Theo ông, nền tảng lâu dài vẫn là chất lượng thực sự.

Trong khi đó, TS Lê Mai Lan, Chủ tịch Hội đồng trường Trường Đại học VinUni, nhấn mạnh sự kiên định về chiến lược và lựa chọn ưu tiên trong xây dựng thương hiệu đại học toàn cầu. Theo bà, vị thế đại học cần được hình thành từ “nội lực - trợ lực - hợp lực”: nội lực của nhà trường, sự hỗ trợ của cơ chế chính sách và sự hợp lực giữa đại học với doanh nghiệp.

Như vậy, hiệu quả quốc tế hóa không nên chỉ nhìn qua số lượng thỏa thuận hợp tác, đoàn ra - đoàn vào hay sinh viên trao đổi. Quan trọng hơn là chương trình đào tạo được nâng chất lượng ra sao, nghiên cứu tạo ra sản phẩm gì, đội ngũ phát triển thế nào và trường đại học đóng góp được gì cho mạng lưới tri thức toàn cầu.

Quốc tế hóa phải tạo ra giá trị thực chất

Bà Nguyễn Thu Thủy, Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế, Bộ GDĐT cho rằng, quốc tế hóa giáo dục đại học cần chuyển mạnh từ chiều rộng sang chiều sâu; từ ký kết sang triển khai; từ các hoạt động riêng lẻ sang chiến lược tổng thể; từ tiếp nhận thụ động sang hợp tác bình đẳng, cùng kiến tạo và cùng chịu trách nhiệm về kết quả. Mỗi cơ sở giáo dục đại học cần xác định rõ ba vấn đề: nhà trường cần hợp tác quốc tế để giải quyết vấn đề gì; đối tác nào phù hợp nhất; và kết quả cụ thể nào cần tạo ra. Hợp tác quốc tế vì vậy phải gắn với chiến lược phát triển nhà trường, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của địa phương, vùng và quốc gia.

Từ góc nhìn này, quốc tế hóa đại học Việt Nam cần được đặt trong một bài toán lớn hơn: không chỉ đưa người học Việt Nam ra thế giới mà phải tạo được năng lực để thế giới tìm đến Việt Nam.

Thu Hương

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/quoc-te-hoa-dai-hoc-tao-nang-luc-de-the-gioi-tim-den-viet-nam.html