Quy định chuyển tiếp cần rõ tiêu chí, chặt cơ chế kiểm soát
Thảo luận tại Hội trường sáng 29/10 về dự án Luật Đất đai (sửa đổi), ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga (TP. Hải Phòng) đề nghị bổ sung nguyên tắc, tiêu chí lựa chọn pháp luật áp dụng đối với các trường hợp chuyển tiếp, bảo đảm những trường hợp có điều kiện tương tự được giải quyết thống nhất. Đại biểu cũng đề nghị xác lập ngay trong Luật trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm phục hồi sinh kế cho người dân bị ảnh hưởng.
Không trao quyền lựa chọn cơ chế pháp luật khi thiếu tiêu chí kiểm soát
Góp ý về các quy định chuyển tiếp tại Điều 110 và Điều 111 dự thảo Luật, ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga (TP. Hải Phòng) cho rằng đây là những quy định có ý nghĩa rất quan trọng, bởi việc chuyển tiếp từ quy định cũ sang quy định mới không chỉ ảnh hưởng đến tiến độ triển khai các dự án mà còn tác động trực tiếp đến quyền lợi của người dân, nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp và nguồn thu ngân sách nhà nước.

ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga (TP. Hải Phòng) phát biểu tại hội trường. Ảnh Hồ Long
Đại biểu cho biết, khoản 2 Điều 110 cho phép UBND cấp tỉnh, trong trường hợp cần thiết, lựa chọn áp dụng một trong nhiều hệ thống quy định pháp luật qua các thời kỳ đối với phần diện tích đất chưa được phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Khoản 3 Điều 110 tiếp tục cho phép lựa chọn giữa việc thực hiện phương án đã được phê duyệt và việc lập lại phương án theo quy định của Luật mới. Tương tự, khoản 2 Điều 111 cho phép UBND cấp tỉnh lựa chọn phương pháp xác định giá đất đối với phần diện tích chưa được giao đất, cho thuê đất trong các dự án thực hiện theo tiến độ.
Theo đại biểu, mục đích của các quy định này là tạo sự linh hoạt, tháo gỡ vướng mắc và tránh làm đình trệ các dự án đang triển khai. Tuy nhiên, sự linh hoạt trong tổ chức thực hiện pháp luật phải được đặt trong những giới hạn pháp lý rõ ràng, trong khi dự thảo chưa quy định đầy đủ các tiêu chí để cơ quan có thẩm quyền lựa chọn phương án áp dụng.
“Nếu không có tiêu chí thống nhất, cùng một dự án, những người dân có đất bị thu hồi ở các thời điểm khác nhau có thể được áp dụng những cơ chế bồi thường khác nhau. Những dự án có điều kiện tương tự cũng có thể được xác định nghĩa vụ tài chính theo những phương pháp khác nhau, tùy thuộc vào quyết định của từng địa phương. Như vậy, một cơ chế được thiết kế để tháo gỡ khó khăn có thể lại làm phát sinh sự thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật, thậm chí tạo ra nguy cơ khiếu kiện và những bất bình đẳng mới”, đại biểu phân tích.
Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung trong Luật các nguyên tắc và tiêu chí lựa chọn pháp luật áp dụng đối với những trường hợp chuyển tiếp. Đối với bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, việc lựa chọn phương án phải bảo đảm không làm giảm những quyền lợi đã được xác lập hợp pháp của người dân; những trường hợp có điều kiện tương tự phải được giải quyết theo tiêu chí thống nhất. Đối với nghĩa vụ tài chính về đất đai, cần xác định rõ căn cứ lựa chọn phương pháp định giá, thời điểm xác định nghĩa vụ tài chính và trách nhiệm công khai, giải trình của cơ quan quyết định.
“Luật có thể trao quyền chủ động cho địa phương, nhưng không nên trao quyền lựa chọn giữa các cơ chế pháp luật khác nhau mà thiếu những tiêu chí kiểm soát cụ thể”, đại biểu nhấn mạnh.
Chính sách tái định cư phải gắn với sinh kế bền vững
Về chính sách hỗ trợ, tái định cư và phục hồi sinh kế tại các Điều 46, 47 và 48, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga ghi nhận dự thảo đã quan tâm hơn đến yêu cầu ổn định đời sống, sản xuất, kinh doanh của người dân.

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận tại hội trường. Ảnh: Phạm Thắng
Theo đó, Điều 46 quy định việc hỗ trợ nhằm bảo đảm chỗ ở, ổn định đời sống và phục hồi sinh kế; Điều 47 đặt ra những yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội của khu tái định cư; Điều 48 quy định các trường hợp được bố trí tái định cư và cơ chế hỗ trợ suất tái định cư tối thiểu.
Tuy nhiên, theo đại biểu, dự thảo vẫn cần làm rõ hơn trách nhiệm bảo đảm kết quả thực hiện chính sách, thay vì chỉ dừng lại ở việc xác định các hình thức hỗ trợ. Khoản 2 Điều 46 đã yêu cầu điều tra, xác định thu nhập từ việc sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và lấy ý kiến người dân trước khi phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Nhưng việc xác định thu nhập ban đầu mới chỉ phản ánh điều kiện sống trước đó, còn vấn đề quan trọng hơn là đời sống của người dân sau đó sẽ như thế nào.
“Một hộ nông dân có thể được bố trí chỗ ở mới nhưng không còn đất sản xuất. Một hộ kinh doanh có thể được bồi thường về đất và tài sản nhưng mất đi địa điểm tạo ra nguồn thu nhập chính. Một người lao động lớn tuổi có thể nhận tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề nhưng không còn khả năng tìm được việc làm phù hợp. Trong những trường hợp ấy, việc hoàn thành chi trả bồi thường và bố trí tái định cư chưa đồng nghĩa với việc người dân đã ổn định được cuộc sống”, đại biểu phân tích.
Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung vào Điều 46 một số nguyên tắc cơ bản. Trước hết, phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cần xác định những nhóm người có nguy cơ mất nguồn sinh kế chủ yếu để có biện pháp hỗ trợ phù hợp, đặc biệt đối với hộ nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật và người trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Đồng thời, cần quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc tổ chức thực hiện, theo dõi và đánh giá kết quả phục hồi sinh kế.
“Luật không thể quy định cứng một mức thu nhập hay một thời hạn hỗ trợ chung cho mọi trường hợp, bởi điều kiện kinh tế - xã hội của các địa phương rất khác nhau. Những nội dung cụ thể đó có thể giao Chính phủ quy định, nhưng nguyên tắc về trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện chính sách phục hồi sinh kế cần được xác lập ngay trong Luật, tránh tình trạng chính sách hỗ trợ đã được phê duyệt nhưng việc thực hiện thiếu nguồn lực, thiếu theo dõi và không xác định rõ trách nhiệm”, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga nhấn mạnh.

