Quy định mới nhất về đền bù, hỗ trợ, khi người dân bị thu hồi đất ở Hà Nội

Từ ngày 1/7/2026, chính sách bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Hà Nội được thực hiện theo Nghị quyết 36/2026/NQ-HĐND. Các quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được quy định từ Điều 6 đến Điều 9 của Nghị quyết.

Từ 1/7/2026, khi thu hồi đất, người dân được hưởng thêm nhiều khoản hỗ trợ ngoài tiền bồi thường.

Từ 1/7/2026, khi thu hồi đất, người dân được hưởng thêm nhiều khoản hỗ trợ ngoài tiền bồi thường.

Người dân bị thu hồi đất được hỗ trợ nhiều khoản mới 

Đối với công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đang sử dụng nhưng phải di chuyển, mức bồi thường bằng tiền được tính theo giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương theo quy định. Đơn vị quản lý, sử dụng, khai thác công trình có trách nhiệm xây dựng mới, di chuyển công trình. Trường hợp công trình không còn sử dụng thì không được bồi thường theo quy định của pháp luật.

Trường hợp đơn vị có tài sản có văn bản đề nghị được nhận bồi thường bằng hình thức hoàn trả công trình, căn cứ tình hình thực tiễn, UBND cấp xã quyết định sử dụng kinh phí bồi thường để xây dựng công trình và hoàn trả, bàn giao cho đơn vị có tài sản. Việc đầu tư xây dựng, nghiệm thu, bàn giao và sử dụng công trình được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Đối với tài sản là công trình xây dựng không hợp pháp trên đất đủ điều kiện được bồi thường theo quy định của pháp luật, nếu công trình được xây dựng trong khoảng thời gian từ ngày 1/7/2014 đến trước ngày 1/8/2024 và không vi phạm pháp luật đất đai, người có tài sản được hỗ trợ bằng 20% mức bồi thường theo quy định. Diện tích được hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất tối đa tại địa phương.

Nghị quyết cũng quy định chính sách hỗ trợ về đất, tài sản trên đất và tái định cư đối với trường hợp sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, có khuôn viên riêng, sử dụng riêng trước ngày 1/7/2006 và không thuộc trường hợp giao đất không đúng thẩm quyền.

Theo đó, hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhà ở tại các khu tập thể chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, có khuôn viên riêng, sử dụng riêng và không thuộc trường hợp giao đất không đúng thẩm quyền được hỗ trợ 60% giá trị bồi thường đối với nhà và đất bị thu hồi. Diện tích được hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất ở theo quy định của UBND Thành phố.

Ngoài khoản hỗ trợ này, hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trên địa bàn xã, phường nơi có đất bị thu hồi thì được mua một căn hộ tái định cư theo quy định của UBND Thành phố.

Đối với các trường hợp tái định cư khác, hộ gia đình, cá nhân và người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sử dụng đất ở, đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất trên địa bàn Thành phố, nếu đủ điều kiện được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, thì được bồi thường bằng giao đất ở hoặc bán nhà ở tái định cư theo quy định.

Quy định này áp dụng trong trường hợp Nhà nước thu hồi hết đất ở nhưng hộ gia đình, cá nhân vẫn còn đất ở, nhà ở khác trên địa bàn xã, phường nơi có đất bị thu hồi và diện tích còn lại nhỏ hơn diện tích tối thiểu được phép tách thửa tại địa phương. Trường hợp Nhà nước thu hồi một phần đất ở nhưng phần diện tích đất còn lại không được xây dựng nhà ở cũng thuộc diện áp dụng.

Về quy định chuyển tiếp, Điều 12 Nghị quyết 36/2026/NQ-HĐND nêu rõ, đối với các trường hợp đã có quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước ngày Nghị quyết 36/2026/NQ-HĐND có hiệu lực thi hành thì thực hiện theo phương án đã được phê duyệt.

Điều kiện bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất

Các trường hợp được bồi thường về đất khi có một trong các điều kiện sau đây:

- Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất;

- Có quyết định giao đất hoặc quyết định cho thuê đất hoặc quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

- Có một trong các giấy tờ về quyền sử dụng đất làm căn cứ để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định tại Điều 137 của Luật này;

- Nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật từ người có quyền sử dụng đất hợp pháp nhưng chưa hoàn thành thủ tục đăng ký đất đai;

- Được sử dụng đất theo thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp để xử lý nợ; văn bản công nhận kết quả đấu giá quyền sử dụng đất mà người trúng đấu giá đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

Quỳnh Chi (t/h)

Nguồn Người Đưa Tin: https://nguoiduatin.vn/quy-dinh-moi-nhat-ve-den-bu-ho-tro-khi-nguoi-dan-bi-thu-hoi-dat-o-ha-noi-204260809170010174.htm