Quy định rõ giới hạn thẩm quyền ban hành chính sách đặc thù, ngăn chặn phát sinh thủ tục hành chính

Sáng 23/10, thảo luận tại Tổ về dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật, Phó trưởng Đoàn ĐBQH TP Quảng Ninh Nguyễn Thị Thu Hà đề nghị, cần quy định rõ giới hạn thẩm quyền ban hành chính sách đặc thù của chính quyền địa phương nhằm ngăn chặn việc phát sinh thủ tục hành chính. Đại biểu cũng nhấn mạnh cần cụ thể hóa tiêu chí điều chỉnh luật trong trường hợp cấp bách; đồng thời, rút ngắn thời gian thí điểm chính sách để bảo đảm tính chặt chẽ của hệ thống pháp luật.

Phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương

Phân tích dự thảo Luật, ĐBQH Nguyễn Thị Thu Hà đánh giá các quy định tại Điều 18, Điều 19 có tác động trực tiếp đến hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp. Qua nghiên cứu, dự thảo cho phép HĐND cấp tỉnh ban hành nghị quyết quy định biện pháp đặc thù phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội địa phương nhưng lại không xác định giới hạn cụ thể của biện pháp này.

Quang cảnh phiên thảo luận tại Tổ 5. Ảnh: Đức Minh

Quang cảnh phiên thảo luận tại Tổ 5. Ảnh: Đức Minh

Việc thiếu quy định ranh giới rõ ràng dễ phát sinh tình trạng mỗi địa phương có một cách hiểu khác nhau, tạo kẽ hở đặt thêm điều kiện, thủ tục đối với người dân, doanh nghiệp, đi ngược chủ trương cắt giảm thủ tục hành chính.

Để khắc phục, đại biểu đề nghị bổ sung giới hạn biện pháp đặc thù theo hướng không đặt ra các quy định hạn chế quyền con người, quyền công dân; không đặt thêm nghĩa vụ, thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh hoặc yêu cầu chuyên môn ngoài phạm vi luật, pháp lệnh quy định, nghị định giao.

Bên cạnh đó, dự thảo giao Chủ tịch UBND cấp tỉnh ban hành quy định phân cấp, phân quyền, trong khi điểm c, khoản 2, Điều 18 lại giao cho tập thể UBND cấp tỉnh cũng thực hiện công việc này. Sự chồng chéo thẩm quyền sẽ gây lúng túng trong việc lựa chọn hình thức văn bản, khó xác định trách nhiệm giải trình. Đại biểu đề nghị viết lại khoản 3, Điều 18 nhằm xác định cụ thể nội dung thuộc thẩm quyền riêng của Chủ tịch UBND cấp tỉnh, phân biệt rõ với thẩm quyền của tập thể UBND cấp tỉnh.

ĐBQH Nguyễn Thị Thu Hà (TP. Quảng Ninh) tham gia thảo luận tại tổ. Ảnh: Đức Minh

ĐBQH Nguyễn Thị Thu Hà (TP. Quảng Ninh) tham gia thảo luận tại tổ. Ảnh: Đức Minh

Đối với cấp xã, dự thảo cho phép HĐND cấp xã ban hành chính sách bảo đảm thi hành văn bản cơ quan nhà nước cấp trên, phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, UBND cấp xã lại không có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để tổ chức thi hành, dẫn đến nghị quyết khó đi vào cuộc sống. Từ thực tế này, đại biểu đề nghị bổ sung vào khoản 3 Điều 19 thẩm quyền của UBND cấp xã về quy định biện pháp thi hành nghị quyết của HĐND cùng cấp, biện pháp tổ chức thực hiện phù hợp điều kiện trên địa bàn.

Cụ thể hóa tiêu chí cấp bách rút ngắn thời gian thí điểm

Về cơ chế điều chỉnh quy định của luật, pháp lệnh, dự thảo cho phép Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh, Chính phủ ban hành nghị định để điều chỉnh luật trong trường hợp khẩn cấp bách mà Quốc hội không thể họp được hoặc điều chỉnh nội dung mang tính kỹ thuật. ĐBQH Nguyễn Thị Thu Hà dẫn chứng thực tiễn từ khóa XV cho thấy, bên cạnh các kỳ họp thường lệ, chuyên đề, Quốc hội đã tổ chức rất nhiều kỳ họp bất thường để giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh. Do đó, việc nhận định Quốc hội không thể họp là chưa đủ sức thuyết phục.

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận tại tổ. Ảnh: Đức Minh

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận tại tổ. Ảnh: Đức Minh

Dự thảo cần xác định cụ thể ngay trong luật tiêu chí của trường hợp khẩn cấp bách, trường hợp Quốc hội không thể họp, cũng như làm rõ nội hàm của nội dung mang tính kỹ thuật. Đại biểu đề nghị quy định rõ những nội dung Hiến pháp quy định phải do luật định như hạn chế quyền con người, quyền công dân, tội phạm, hình phạt, thuế tuyệt đối không được điều chỉnh theo cơ chế này. Các quyết định ban hành phải thay yêu cầu báo cáo bằng yêu cầu trình Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp gần nhất, đồng thời dự liệu hệ quả pháp lý trong trường hợp Quốc hội không chấp thuận, bao gồm việc xử lý các quan hệ đã phát sinh.

Đối với quy định thí điểm chính sách tại Điều 20, dự thảo đề xuất thời gian thí điểm không quá 5 năm, có thể gia hạn một lần không quá 5 năm. Đại biểu đánh giá tổng thời gian kéo dài 10 năm là quá dài so với tốc độ biến động của khoa học, công nghệ, kinh tế hiện nay. Việc một chính sách thí điểm kéo dài 10 năm trên thực tế đã trở thành chính sách chính thức nhưng không phải trải qua đầy đủ quy trình xây dựng luật nghiêm ngặt.

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận tại tổ. Ảnh: Đức Minh

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận tại tổ. Ảnh: Đức Minh

Đại biểu đề nghị nghiên cứu rút ngắn thời gian thí điểm ban đầu xuống không quá 3 năm, thời gian gia hạn không quá 2 năm. Việc gia hạn chỉ được thực hiện khi có báo cáo đánh giá kết quả thí điểm, lý do cụ thể. Văn bản thí điểm cũng cần bổ sung chỉ số đánh giá, thời điểm sơ kết, tổng kết, dự liệu việc chuyển sang áp dụng chính thức hoặc kết thúc thí điểm để bảo đảm an toàn cho các giao dịch, quyền, lợi ích hợp pháp đã hình thành trong thời gian thí điểm.

Mạnh Tuân

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/quy-dinh-ro-gioi-han-tham-quyen-ban-hanh-chinh-sach-dac-thu-ngan-chan-phat-sinh-thu-tuc-hanh-chinh-10440144.html