Quy hoạch đường sắt đô thị tái cấu trúc không gian Thủ đô với tầm nhìn 100 năm
Trong tầm nhìn 100 năm, mạng lưới đường sắt đô thị dự kiến gồm 18 tuyến với tổng chiều dài 979km, được định hướng làm 'khung xương sống' cho giao thông công cộng, qua đó hỗ trợ triển khai mô hình phát triển đa cực - đa trung tâm, tái cấu trúc không gian Thủ đô. Quá trình triển khai ưu tiên các đối tác cam kết chuyển giao công nghệ lõi cho các doanh nghiệp Việt Nam.

Tuyến đường sắt đô thị 2A Cát Linh - Hà Đông phát huy hiệu quả cao.
Tái cấu trúc không gian Thủ đô
Sau 25 năm nghiên cứu, đầu tư xây dựng, đến nay, Hà Nội mới đưa vào khai thác 2 tuyến/đoạn tuyến với chiều dài khoảng 21,5km, gồm tuyến 2A Cát Linh-Hà Đông và tuyến 3.1 đoạn trên cao tuyến Nhổn-Ga Cầu Giấy.
Cùng với đó, thành phố đang triển khai thi công 3 tuyến với tổng chiều dài 54,42km, gồm đoạn ngầm tuyến 3.1 Ga Cầu Giấy-Ga Hà Nội; tuyến 2.1 Nam Thăng Long-Trần Hưng Đạo; tuyến số 5 Văn Cao-Láng-Hòa Lạc.
Các tuyến đang nghiên cứu đầu tư với chiều dài 91,5km, gồm tuyến 2A kéo dài Hà Đông-Xuân Mai; tuyến 2.2 Trần Hưng Đạo-Thượng Đình và tuyến 2.3 Nam Thăng Long-Nội Bài; tuyến số 1 Yên Viên-Ngọc Hồi; tuyến 3.2 Ga Hà Nội-Hoàng Mai.
“Tại đồ án Quy hoạch tổng thể Thủ đô, tầm nhìn 100 năm đang được Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội nghiên cứu lập, đường sắt đô thị được xác định là một cấu phần hạ tầng khung then chốt, có vai trò tổ chức và dẫn dắt không gian phát triển đô thị. Hệ thống đường sắt đô thị được định hướng hình thành mạng lưới vận tải khối lượng lớn, làm “khung xương sống” cho giao thông công cộng, qua đó hỗ trợ triển khai mô hình phát triển đa cực - đa trung tâm, tái cấu trúc không gian Thủ đô theo chiến lược “9 cực - 9 trung tâm - 9 trục - 8 vành đai”, đồng thời tạo nền tảng để thực hiện hiệu quả mô hình phát triển đô thị định hướng giao thông công cộng (TOD) ở cả cấp đô thị và cấp vùng. Về cơ bản mạng lưới quy hoạch lần này đã khắc phục được các điểm yếu trong các quy hoạch trước, tuy nhiên cần tiếp tục rà soát đánh giá đầy đủ các tiêu chí kỹ thuật áp dụng. Theo đó, kết quả nghiên cứu tại đồ án Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm, mạng lưới đường sắt đô thị trên địa bàn thành phố dự kiến 18 tuyến, chiều dài khoảng 979km”, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND thành phố Hà Nội Dương Đức Tuấn cho biết.

Đoạn đi ngầm tuyến 3.1 Nhổn - ga Hà Nội đang được đẩy nhanh tiến độ thi công. Ảnh: Tuấn Lương.
Theo định hướng Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm, dự kiến, giai đoạn 2026-2035, thành phố sẽ hoàn thành đầu tư xây dựng 10 tuyến/đoạn tuyến (8 tuyến hoàn chỉnh, 2 đoạn tuyến) với chiều dài khoảng 500km; giai đoạn 2036-2045 hoàn thành đầu tư xây dựng 7 tuyến/đoạn tuyến (5 tuyến hoàn chỉnh, 2 đoạn tuyến còn lại của giai đoạn 2026-2035) với chiều dài khoảng 383km; giai đoạn 2046-2065 hoàn thành đầu tư xây dựng 3 tuyến với chiều dài khoảng 96km.
Hệ thống đường sắt đô thị không chỉ nhằm mục đích giải quyết bài toán giao thông công cộng mà còn tác động đến cảnh quan kiến trúc không gian thành phố cũng như vấn đề an ninh quốc phòng. Trong khuôn khổ của hệ thống đường sắt đô thị cũng được giới hạn bởi cấu trúc không gian ngầm và ảnh hưởng trực tiếp tới dự kiến tổng mức đầu tư của toàn hệ thống. Do đó, trên cơ sở ý kiến góp ý của các bên liên quan, có thể xem xét 3 phương án đi ngầm đối với hệ thống đường sắt đô thị Thủ đô.
Phương án 1: đi ngầm từ Vành đai 3.5 trở vào (524km đi ngầm/455km đi nổi) với tổng vốn đầu tư là 109,76 tỷ USD; phương án 2: đi ngầm từ Vành đai 4 trở vào (654km đi ngầm/325km đi nổi) cần tới 117,56 tỷ USD; phương án 3: đi ngầm toàn bộ (979km đi ngầm) tổng mức đầu tư lên tới 137,06 tỷ USD.
Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư
Cũng theo Phó Chủ tịch Thường trực UBND thành phố Hà Nội Dương Đức Tuấn, nhu cầu vốn cho các dự án đường sắt đô thị và cho từng giai đoạn đầu tư là rất lớn, do vậy, thành phố cần xác định rõ nguồn lực nội sinh là quyết định, nguồn lực bên ngoài là đột phá, đồng thời phải xây dựng ngay các cơ chế đầu tư linh hoạt mới có thể đáp ứng được nhu cầu phát triển, đúng như tinh thần của Nghị quyết số 79-NQ/TW phát triển kinh tế Nhà nước và Nghị quyết số 68-NQ/TW nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân.

Khu vực xung quanh các nhà ga trong tương lai sẽ phát triển TOD để tái đầu tư metro. Ảnh: Tuấn Lương.
Tổng vốn ngân sách thành phố Hà Nội dự kiến huy động cho phát triển mạng lưới đường sắt đô thị Thủ đô giai đoạn 2026-2030 khoảng 12,4 tỷ USD; giai đoạn 2031-2035 khoảng 16,16 tỷ USD; giai đoạn 2036-2045 khoảng 18,252 tỷ USD. Ngân sách Trung ương hỗ trợ khoảng 8,614 tỷ USD trong giai đoạn 2026-2035 và nguồn vốn vay ODA ước khoảng 5,224 tỷ USD.
Mặt khác, kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 của thành phố Hà Nội được HĐND thông qua tại Nghị quyết số 04/NQ-HĐND ngày 28-3-2026, theo đó kế hoạch vốn phân bổ cho đường sắt đô thị giai đoạn 2026-2030 là 310.191 tỷ đồng (tương đương 12,4 tỷ USD, về cơ bản đã đáp ứng mục tiêu theo Nghị quyết 188/2025/QH15). Theo báo cáo của Ban quản lý Đường sắt đô thị Hà Nội, nhu cầu vốn của giai đoạn 2026-2030 khoảng 19,67 tỷ USD.
Theo tính toán, nhu cầu vốn của giai đoạn 2026-2035 theo Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm dự kiến khoảng 60-70 tỷ USD (tùy theo phương án đi ngầm), do vậy nhu cầu vốn dự kiến cần bổ sung cho giai đoạn 2026-2035 để đầu tư hệ thống đường sắt đô thị khoảng 18,36-27,6 tỷ USD.
Đối với giai đoạn 2036-2045 theo Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm dự kiến khoảng 40,12-53,62 tỷ USD (tùy theo phương án đi ngầm), nhu cầu vốn dự kiến cần bổ sung cho giai đoạn 2036-2045 để đầu tư hệ thống đường sắt đô thị khoảng 21,87-35,37 tỷ USD.
Hà Nội dự kiến đa dạng hóa nguồn vốn, trong đó ngân sách thành phố giữ vai trò chủ đạo, kết hợp hỗ trợ từ Trung ương (khoảng 10-15% trong giai đoạn đến năm 2035), vốn ODA, phát hành trái phiếu (đặc biệt trái phiếu xanh) và các hình thức PPP. Nguồn thu từ quỹ đất theo mô hình TOD được xác định có tiềm năng nhưng chưa thể đóng vai trò chủ lực trong giai đoạn đầu.

Hà Nội đang quy hoạch mạng lưới metro góp phần tái cấu trúc không gian Thủ đô với tầm nhìn 100 năm. Ảnh: Phạm Hùng
Một vấn đề cũng được thành phố đặc biệt nhấn mạnh trong phát triển hệ thống đường sắt đô thị tầm nhìn 100 năm. Đó là phải bảo đảm các nguyên tắc như: tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn và khung thông số kỹ thuật dùng chung. Có thể xem xét các yếu tố vượt trội, nhưng bảo đảm tính đồng bộ liên thông hệ thống và phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam; bảo đảm các yêu cầu về chuyển giao công nghệ đặc biệt là đối với công nghệ về điều khiển và thiết kế chế tạo đoàn tàu. Ưu tiên các đối tác cam kết chuyển giao công nghệ lõi cho các doanh nghiệp Việt Nam. Phấn đấu đến năm 2040 Việt Nam làm chủ đến 95% việc đầu tư xây dựng hệ thống đường sắt đô thị và quản lý khai thác vận hành. Trên cơ sở các điều kiện về chuyển giao công nghệ phấn đấu từng bước tăng tỷ lệ nội địa hóa và dần hình thành công nghiệp đường sắt Việt Nam.











