Quý I/2026: Cao Bằng giữ được đà tăng, nhưng chưa bứt phá
Quý I/2026 khép lại với một bức tranh tăng trưởng tương đối đồng đều trên phạm vi cả nước. Theo số liệu tổng hợp của 34 tỉnh, thành phố, mức tăng trưởng GRDP dao động chủ yếu trong khoảng từ trên 105% đến trên 112%. Nhóm cao nhất đạt trên 112%, nhóm thấp nhất quanh mức 105 - 106%, khoảng cách không lớn nhưng đủ để phản ánh sự khác biệt về chất lượng tăng trưởng giữa các địa phương.

Chủ tịch UBND tỉnh Lê Hải Hòa phát biểu kết luận phiên họp thường kỳ tháng 3 đánh giá tình hình kinh tế - xã hội quý I và triển khai nhiệm vụ trọng tâm quý II/2026.
Trong mặt bằng đó, Cao Bằng đạt khoảng 107,5%, tương ứng tăng trưởng khoảng 7,5%. Mức này cao hơn nhóm thấp, nhưng vẫn thấp hơn khá rõ so với nhóm dẫn đầu. Điều đáng lưu ý là sự chênh lệch không nằm ở quy mô, mà chủ yếu đến từ cách tổ chức nền kinh tế và khả năng tạo ra động lực tăng trưởng.
So với kịch bản điều hành của tỉnh, tăng trưởng quý I thấp hơn khoảng 2,19 điểm phần trăm so với mục tiêu 9,69% đề ra từ đầu năm. Phần chưa đạt tập trung chủ yếu ở các khu vực được kỳ vọng đóng vai trò dẫn dắt.
Nông nghiệp đạt khoảng 2,26%, cao hơn kịch bản 0,22 điểm phần trăm, tiếp tục giữ vai trò ổn định. Tuy nhiên, cần nhìn nhận thận trọng rằng số liệu quý I có yếu tố giao thoa với chu kỳ sản xuất của quý II, trong khi những rủi ro thực tế đã xuất hiện ngay từ cuối tháng 3. Mưa đá và dông lốc đã gây thiệt hại trên 300 ha cây trồng, tổng giá trị hơn 43 tỷ đồng, riêng diện tích thuốc lá bị ảnh hưởng lớn. Bên cạnh đó, dịch tả lợn châu Phi vẫn có nguy cơ tái bùng phát, trong khi tổng đàn lợn quý I giảm khoảng 15% so với cùng kỳ. Những yếu tố này cho thấy khu vực nông nghiệp tuy đang giữ được nhịp, nhưng áp lực cho quý II là rất rõ, buộc phải có phương án bù đắp sản lượng và chuyển đổi phù hợp.
Khu vực công nghiệp - xây dựng là nơi hụt nhiều nhất so với kịch bản. Theo kế hoạch, khu vực này cần tăng khoảng 21,94%, nhưng thực tế chỉ đạt 12,91%, chênh lệch hơn 9 điểm phần trăm. Xem xét cụ thể cho thấy sản xuất không ổn định giữa các ngành. Điện sản xuất tăng trên 26%, quặng mangan tăng hơn 55%, nhưng tinh quặng niken đồng giảm gần 50%, phôi thép giảm hơn 8%. Tăng trưởng vì vậy thiếu tính đồng đều và chưa tạo được sức lan tỏa.
Trong lĩnh vực xây dựng, khó khăn thể hiện rõ ở tiến độ triển khai dự án. Tỷ lệ giải ngân đầu tư công đến hết quý I chỉ đạt khoảng 1,2% kế hoạch, thấp nhất cả nước. Nếu tính trên số vốn đã giao chi tiết, cũng chỉ đạt khoảng 3,2%, thấp hơn cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân không chỉ do yếu tố thời điểm đầu năm, mà chủ yếu do chi phí tăng cao. Giá vật liệu, nhân công và vận chuyển đều tăng, trong khi nhiều dự án ký theo hình thức hợp đồng đơn giá cố định, dẫn đến vướng mắc trong triển khai và thanh toán. Nếu không xử lý kịp thời, tình trạng này sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến tiến độ các dự án trong quý II.
Khu vực dịch vụ đạt khoảng 7,42%, thấp hơn kịch bản 1,34 điểm phần trăm. Bên trong khu vực này có sự khác biệt rõ. Du lịch tiếp tục tăng mạnh với 636.697 lượt khách, tăng hơn 34%, doanh thu đạt khoảng 704 tỷ đồng, tăng hơn 56%. Trong khi đó, hoạt động kinh tế cửa khẩu lại giảm sâu. Kim ngạch xuất nhập khẩu đạt khoảng 187,5 triệu USD, giảm 16%; xuất khẩu giảm khoảng 30%, nhập khẩu giảm khoảng 63%. Thu ngân sách từ hoạt động này chỉ đạt khoảng 178,7 tỷ đồng, giảm tới 68,5%.
Nhìn cụ thể hơn vào dòng hàng, số xe ô tô nhập khẩu qua địa bàn chỉ đạt 733 xe, giảm 72%. Trong cùng thời gian, Lạng Sơn đạt trên 18.000 xe, Quảng Ninh tăng mạnh. Sự chênh lệch này cho thấy vấn đề không nằm ở thị trường chung, mà ở cách tổ chức hoạt động, chi phí logistics, thời gian thông quan và mức độ ổn định của môi trường kinh doanh.
Cơ cấu kinh tế hiện nay của tỉnh phản ánh rõ những hạn chế này. Khu vực dịch vụ chiếm khoảng 60% GRDP, công nghiệp - xây dựng khoảng 18%, nông nghiệp khoảng 17%. Khi khu vực chiếm tỷ trọng lớn chưa tạo được mức tăng đủ mạnh, còn khu vực có khả năng tạo đột phá lại chưa đạt kỳ vọng, thì tăng trưởng chung khó có thể bứt lên.
So với các địa phương tăng trưởng cao, điểm khác biệt là họ có một số ngành đủ lớn để kéo toàn bộ nền kinh tế. Trong khi đó, Cao Bằng có nhiều lĩnh vực cùng tồn tại nhưng chưa có lĩnh vực nào đạt quy mô đủ lớn để tạo lực kéo chính. Cơ cấu vì vậy còn dàn trải, chưa hình thành rõ các động lực chủ đạo.
Tuy nhiên, Cao Bằng không phải là địa phương thiếu lợi thế. Kinh tế cửa khẩu, du lịch, vị trí địa chính trị đều là những yếu tố quan trọng. Vấn đề là các lợi thế này chưa chuyển thành các ngành có đóng góp lớn trong GRDP. Vì vậy, tiềm năng vẫn còn, nhưng kết quả chưa tương xứng.

Cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh được đẩy nhanh tiến độ thi công: Ảnh: N.H
Trong bối cảnh đó, tiến độ triển khai cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh là một điểm sáng đáng chú ý. Việc tổ chức thi công với cường độ cao, sản lượng thực hiện đạt trên 59% giá trị hợp đồng, riêng phần giai đoạn 1 đạt trên 70%, cho thấy khi cách làm thay đổi, tiến độ có thể cải thiện rõ rệt.
Cùng với đó, việc chủ trương đầu tư cao tốc Bắc Kạn - Cao Bằng đã được thông qua tại kỳ họp HĐND lần thứ 2 (chuyên đề) mở ra triển vọng mới cho tỉnh. Khi tuyến Đồng Đăng - Trà Lĩnh kết nối ra biên giới và tuyến Bắc Kạn - Cao Bằng kết nối vào nội địa, không gian phát triển sẽ được mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi hơn để thu hút đầu tư và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Bên cạnh các vấn đề lớn, cũng cần nhìn lại cách tiếp cận trong một số chương trình cụ thể. Phương án điện mặt trời mái nhà là một ví dụ. Nếu thiết kế theo hướng tối đa công suất mà chưa bám sát nhu cầu sử dụng thực tế và chưa tính toán đầu ra cho phần điện dư, thì hiệu quả đầu tư có thể không đạt như kỳ vọng. Điều cần rút ra là mọi chủ trương đều phải đi cùng với cách làm phù hợp, nhất là trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế.
Nhìn tổng thể, quý I cho thấy Cao Bằng vẫn giữ được đà tăng trưởng, có những điểm tích cực và có chuyển động trong tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, những hạn chế về cơ cấu kinh tế, về động lực tăng trưởng và về tiến độ triển khai cũng đã bộc lộ rõ.
Quý II vì vậy mang ý nghĩa rất cụ thể. Không phải là làm thêm nhiều việc mới, mà là xử lý dứt điểm những điểm nghẽn đã nhìn thấy. Khi hoạt động kinh tế cửa khẩu được cải thiện theo hướng thực chất, khi đầu tư công được đẩy nhanh gắn với tháo gỡ vướng mắc về chi phí, khi các lĩnh vực có tiềm năng được khai thác sâu hơn, thì tăng trưởng sẽ có điều kiện cải thiện rõ.
Điều quan trọng là phải bám sát thực tế, làm đến đâu chắc đến đó, và từng việc phải có kết quả cụ thể. Chỉ khi những chuyển biến đó được tạo ra một cách thực chất, khoảng cách với nhóm trên mới có thể được thu hẹp trong các quý tiếp theo.













