Quy mô GDP Việt Nam vượt Philippines, áp sát Thái Lan, thu nhập gần theo kịp Indonesia
Từ quy mô GDP chỉ bằng gần 1/8 Philippines vào năm 1990, Việt Nam vươn lên vượt quốc gia này, áp sát Thái Lan và thu hẹp khoảng cách thu nhập với Indonesia. Cú bứt phá đưa Việt Nam tiến gần nhóm đầu, dù vậy mục tiêu nước thu nhập cao còn thách thức.
Việt Nam ngược dòng, vượt xa Philippines, áp sát Thái Lan và Indonesia
Ít ai nghĩ rằng chỉ hơn ba thập kỷ trước, Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới, trong khi Philippines được xem là hình mẫu phát triển của Đông Nam Á.
Năm 1990, GDP của Việt Nam chỉ khoảng 6,5 tỷ USD, bằng gần 1/8 quy mô khoảng 50,5 tỷ USD của Philippines. Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam khi đó chỉ khoảng 120 USD, bằng khoảng 1/6-1/7 (hơn 800 USD) của Philippines.
Khoảng cách vẫn còn rất lớn vào năm 2000 khi GDP Philippines đạt gần 84 tỷ USD, gấp gần ba lần mức hơn 31 tỷ USD của Việt Nam. Tuy nhiên, từ đầu những năm 1990, Việt Nam bắt đầu bước vào giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ nhờ công cuộc Đổi mới, mở cửa nền kinh tế và hội nhập quốc tế. Khoảng cách liên tục được thu hẹp trước khi hai nền kinh tế gần như ngang nhau vào năm 2020.

So sánh một vài số liệu kinh tế của hai quốc gia.
Bước ngoặt xuất hiện năm 2022 khi Việt Nam lần đầu vượt Philippines về quy mô GDP.
Theo ước tính của IMF, đến năm 2025, GDP Việt Nam đạt khoảng 514 tỷ USD, cao hơn mức khoảng 487 tỷ USD của Philippines.
Cùng năm, Việt Nam chính thức bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao theo phân loại của Ngân hàng Thế giới, khi GNI bình quân đầu người đạt 4.970 USD, tạo nền tảng hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Sự thay đổi còn rõ nét hơn ở thương mại. Nếu Philippines từng là một trong những quốc gia xuất khẩu hàng đầu khu vực thì đến năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của nước này đạt gần 84,5 tỷ USD, trong khi kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt mức 473 tỷ USD.
Theo WTO, năm 2024 Việt Nam chiếm khoảng 1,8% tổng xuất khẩu hàng hóa toàn cầu, đứng thứ 18 thế giới và xếp thứ hai ASEAN, trong khi Philippines chiếm khoảng 0,3%, đứng thứ 44.
Đáng chú ý, Việt Nam chỉ tạo ra khoảng 0,5% GDP toàn cầu nhưng lại đóng góp gần 1,8% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thế giới. Điều đó cho thấy nền kinh tế đã trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu và thuộc nhóm có độ mở thương mại cao nhất thế giới.
So với các nước khác trong khu vực, Việt Nam đứng thứ 4 về quy mô GDP (năm 2025), áp sát Thái Lan và Indonesia với quy mô hơn 514 tỷ USD. Còn GNI bình quân đầu người đứng thứ 6, dần áp sát Indonesia (4.970 USD so với 5.120 USD).
Đằng sau sự bứt phá đó là hàng loạt cải cách mở cửa và chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, môi trường chính trị ổn định, thu hút mạnh dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), phát triển công nghiệp chế biến - chế tạo, cùng mạng lưới các hiệp định thương mại tự do thuộc nhóm rộng nhất thế giới. Trong bối cảnh các tập đoàn quốc tế tái cấu trúc chuỗi cung ứng, Việt Nam nổi lên như một trung tâm sản xuất mới của châu Á.

Quy mô kinh tế Việt Nam so với các nước Đông Nam Á.
Hướng tới nước thu nhập trung bình cao, vượt bẫy thu nhập trung bình
Năm 2025, tờ Financial Times nhận định với quỹ đạo hiện nay, cùng một Chính phủ theo đuổi cải cách và lực lượng lao động năng động, Việt Nam là một trong số rất ít quốc gia có cơ hội vượt qua bẫy thu nhập trung bình - điều mà nhiều nền kinh tế đang phát triển không làm được.
Sau khi chính thức lọt vào nhóm thu nhập trung bình cao năm 2025, với GNI bình quân đầu người tăng từ 4.490 USD lên 4.970 USD, Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045.
Tuy nhiên, con đường này chưa bao giờ dễ dàng. Nhiều nền kinh tế như Thái Lan, Brazil, Argentina, Nam Phi hay Malaysia đã mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình suốt nhiều thập kỷ. Trong đó, Thái Lan từng được ví như một "con hổ mới" của châu Á, nhưng đến nay vẫn chưa thể gia nhập nhóm thu nhập cao.
Trong một lần chia sẻ với PV VietNamNet, TS Lê Duy Bình cho rằng, những cải cách về thể chế và kinh tế đã giúp Việt Nam lựa chọn được mô hình tăng trưởng phù hợp, tạo nền tảng cho hàng loạt cải cách tiếp theo.
Từ một nền kinh tế vận hành theo cơ chế bao cấp, Việt Nam từng bước chuyển sang kinh tế thị trường, mở cửa cả thị trường trong nước và quốc tế. Theo ông, đây là nền tảng quan trọng để thúc đẩy sản xuất, thu hút đầu tư và tạo động lực cho tăng trưởng.
Ông cho rằng cùng với việc mở rộng thị trường, Việt Nam đã đa dạng hóa các thành phần kinh tế, tạo điều kiện cho khu vực tư nhân và các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia mạnh mẽ vào nền kinh tế.
“Khi có thị trường thì sẽ có sản xuất, có sản xuất thì sẽ thúc đẩy đầu tư”, ông Bình nói.
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân (Trường Đại học Kinh tế TPHCM) cho rằng, trước hết cần tiếp tục đột phá về thể chế, tạo môi trường kinh doanh minh bạch, cạnh tranh bình đẳng, bảo vệ quyền tài sản và giải phóng hiệu quả các nguồn lực xã hội. Nhà nước cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển, lấy doanh nghiệp và người dân làm trung tâm.
Cùng với đó, Việt Nam phải nâng cao năng suất lao động và chất lượng nguồn nhân lực, tập trung đào tạo đội ngũ lao động có kỹ năng cao trong các lĩnh vực như công nghệ, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, bán dẫn, logistics, năng lượng xanh và quản trị quốc tế. Giáo dục đại học, đào tạo nghề, nghiên cứu ứng dụng và liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp cần được ưu tiên hơn.
Hành trình của Việt Nam và Philippines cho thấy lợi thế ban đầu không bảo đảm chắc chắn cho thành công một cách dễ dàng. Câu chuyện của Thái Lan cũng mang đến bài học kinh nghiệm. Cuối thập niên 1980, Thái Lan từng có năm tăng trưởng GDP trên 13% và được xem là một "con hổ châu Á", nhưng sau gần bốn thập kỷ, Thái Lan vẫn chưa gia nhập nhóm thu nhập cao do một số nguyên nhân như năng suất tăng chậm, dân số già hóa và phụ thuộc các ngành có giá trị gia tăng chưa thực sự cao.
Đối với Việt Nam, để trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045, tăng trưởng nhanh là điều kiện cần, nhưng có thể chưa đủ. Để duy trì đà bứt phá, Việt Nam cần tiếp tục cải cách thể chế, phát triển khoa học - công nghệ, nâng cao năng suất lao động, xây dựng các doanh nghiệp có sức cạnh tranh toàn cầu và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
Chỉ khi chất lượng tăng trưởng được cải thiện song hành với tốc độ tăng trưởng, Việt Nam mới có thể tránh được "bẫy thu nhập trung bình" mà không ít nền kinh tế đi trước từng mắc phải.



