'Quỳ viên gia học' – viên ngọc quý của Đông y Việt Nam

Danh y Hoàng Nguyên Cát - người con xứ Nghệ thế kỷ XVIII - đã để lại bộ sách 'Quỳ viên gia học' gồm 11 tập chữ Hán, đúc kết kinh nghiệm khám chữa bệnh. Tác phẩm hệ thống những nội dung cốt lõi của y học cổ truyền như pháp, y, phương, dược... mang giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc đến ngày nay.

Nhà thờ lương y Hoàng Nguyên Cát.

Nhà thờ lương y Hoàng Nguyên Cát.

Thân thế Lương Y Hoàng Nguyên Cát

Lương y Hoàng Nguyên Cát, húy Nguyên Mỹ, hiệu Long Môn tiên sinh, sinh năm Nhâm Ngọ (1702). Ông qua đời ngày 29 tháng 3 âm lịch năm Kỷ Hợi (1779), hưởng thọ 77 tuổi, tại làng Vạn Lộc, huyện Chân Phúc – nay là phường Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.

Ông sinh trưởng trong một gia đình nho học truyền thống. Thân sinh là Hoàng Đăng Bạt, đậu Trường sinh khoa Giáp Ngọ (1714), từng là thầy thuốc nổi tiếng ở huyện Chân Phúc.

Năm 1723, khi tròn 21 tuổi, Hoàng Nguyên Cát thi lần đầu tại trường huyện, đậu Hiệu sinh. Đây là bước khởi đầu của việc học hành, thi đỗ đạt và làm quan. Với tư chất thông minh, ham học hỏi, ông có thể học và thi đỗ cao hơn nữa. Song, vào thời đất nước loạn lạc, ông bỏ ngang việc học hành và theo cha học nghề thuốc.

Ông từng đến các huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên, Thanh Chương để “tầm sư học đạo”. Tại Thanh Chương, ông gặp được thầy Châu Vạn tiên sinh ở làng Thượng Thọ nhận làm học trò. Cảm mến tài năng, đức độ của người học trò, vị thầy đã truyền nghề và gả con gái cho ông. Từ đó, thầy trò cùng miệt mài học tập, bốc thuốc chữa bệnh cứu người, danh tiếng lan xa khắp vùng.

Lúc cha mẹ già yếu, ông xin gia đình nhạc phụ trở về quê hương (làng Vạn Lộc) để phụng dưỡng cha mẹ và tiếp tục chữa bệnh cứu người. Thấm thoát 46 năm hành nghề, ông đã để lại cho đời bộ sách "Quỳ viên gia học", mà sau này, khi hội thảo khoa học, các nhà khoa học đã đánh giá là "viên ngọc quý" của nền Đông y Việt Nam.

Sự nghiệp Lương Y Hoàng Nguyên Cát

Bộ sách Quỳ viên gia học

Sau 46 năm làm thuốc, với kinh nghiệm, trình độ và tâm huyết của mình, lương y Hoàng Nguyên Cát đã để lại cho đời một bộ sách "Quỳ viên gia học" viết bằng chữ Hán Nôm, bao gồm 11 tập (do thời gian, đến nay thất lạc 1 tập chưa tìm được).

Cụ thể:

Quyển 1 (450) – Gia phả dòng họ;
Quyển 2 (451) – Quỳ viên gia truyền kinh nghiệm;
Quyển 3 (452) – Tạp bệnh đề yếu;
Quyển 4 (453) – Ấu khoa;
Quyển 5 (454) – Nữ khoa;
Quyển 6 (455) – Dược tính;
Quyển 7 (456) – Bàn về tạng phủ, nội khoa tạp bệnh;
Quyển 8 (457) – Thư trai dật bút;
Quyển 9 (458) – Ghi lại các bệnh án của 68 loại bệnh;
Quyển số 10 (459) – Dược tính 198 vị thuốc.

Bộ sách "Quỳ viên gia học" do Hội Đông y tỉnh Nghệ An sưu tầm, dịch thuật, biên soạn.

Bộ sách "Quỳ viên gia học" do Hội Đông y tỉnh Nghệ An sưu tầm, dịch thuật, biên soạn.

Những nội dung cốt yếu của bộ sách "Quỳ viên gia học"

Về đạo đức của người Thầy thuốc

Sau khi thi đỗ Hiệu sinh khoa Quý Mão (1723), Hoàng Nguyên Cát không tiếp tục sự nghiệp đèn sách để thi cử làm quan, mà chuyển sang bước rẽ học nghề thầy thuốc để chữa bệnh cứu người.

Trong phần mở đầu của bộ sách Quỳ viên gia học, ông đã tâm sự: "Người ta sinh ra ở đời, kẻ có sự nghiệp lớn, người có sự nghiệp nhỏ, không chỉ cố chấp làm một nghề thầy thuốc chữa bệnh mà thôi, nhưng nghề thầy thuốc gọi là đạo, vì có quan hệ đến tính mạng con người, mà còn làm được nhiệm vụ của con người đối với cha mẹ, thì biết nghề làm thầy thuốc là một sự cần thiết".

Quan điểm của danh y Hoàng Nguyên Cát trong học nghề y là trước hết cần có trách nhiệm với xã hội, với cộng đồng, với cha mẹ, anh em; nên trong quá trình học tập phải chuyên cần, trách nhiệm với nghề phải cao, và danh y khẳng định: "Y là cái đạo".

Theo danh y Hoàng Nguyên Cát trong việc chữa bệnh là sử dụng những thang thuốc gia truyền khi bệnh trạng của người bệnh còn có thể chịu đựng và chưa đến mức phức tạp, nguy hiểm. Khi cơ thể người bệnh còn có thể thích hợp với bài thuốc gia truyền ấy, ông tuyệt đối không dùng thuốc bừa bãi.

Ông viết trong Quỳ viên gia học: "Bệnh biến phải có nguyên nhân và cũng thay đổi từng thời kỳ, mỗi lúc một khác. Khi lâm sàng, có thể áp dụng được hay không là cốt ở chỗ thông minh xét đoán của thầy thuốc, chịu trách nhiệm trước người bệnh lúc đó".

Trong quá trình chữa bệnh cứu người, Hoàng Nguyên Cát luôn phản đối những người không học, chỉ dựa vào mấy quyển sách chết và mấy phương thuốc chết, không có giá trị tuyệt đối trong mọi thời gian và không gian. Hoàng Nguyên Cát cho đó là những kẻ sát nhân, những kẻ coi sinh mạng bệnh nhân như cỏ rác dọc đường.

Ông là một nhà y học dân tộc chân chính, đã biết vận dụng sáng tạo những thành tựu của nền y học nước ngoài vào điều kiện cụ thể của địa phương mình. Ông cho rằng: Nghệ Tĩnh là nơi nóng nhiều, nên bệnh do hàn tà xâm nhập ít hơn; bởi vậy không nên mang phương thang của Trọng Cảnh ra áp dụng một cách máy móc.

Ông tán thành ý kiến: đọc sách Trọng Cảnh nên phục tấm lòng Trọng Cảnh, nên giữ phương pháp Trọng Cảnh, chứ không câu nệ phương thang Trọng Cảnh. Chính khí của con người có khi tụ, khi tán; vận hội xưa nay có khác nhau; bẩm thụ khí hậu hay khí bạc, kẻ mạnh, người yếu cũng không giống nhau. Thế mà có những thầy thuốc hồi bấy giờ cứ mang các phương thuốc Trọng Cảnh ra dùng một cách rập khuôn, làm chết oan nhiều người, chẳng đáng tiếc lắm sao?

Sau tập "Dược tính", danh y Hoàng Nguyên Cát cho ra đời công trình "Y học gia truyền". Đây là một công trình có giá trị sáng tạo cả về lý luận và thực tiễn trong phòng và chữa bệnh.

Bấy nhiêu cứ liệu trên cho thấy Hoàng Nguyên Cát không chỉ là một trong những người đặt nền móng cho nền y học dân tộc mà còn là người khởi xướng và kiên trì thực hiện những đạo lý tốt đẹp của người thầy thuốc, mà ngày nay y học hiện đại phát triển thành y đức để rèn luyện, giáo dục cho những người thầy thuốc.

Bộ sách "Quỳ viên gia học" viết bằng chữ Hán Nôm.

Bộ sách "Quỳ viên gia học" viết bằng chữ Hán Nôm.

Kế thừa, tiếp thu có chọn lọc và phát triển

Bộ sách Quỳ viên gia học của Hoàng Nguyên Cát đã kế thừa tinh hoa của nền Đông y thông qua các tác phẩm kinh điển của các thế hệ trước, đồng thời gắn với thực tiễn hành nghề chữa bệnh. Từ đó, ông tổng kết, chắt lọc những giá trị cần bảo tồn, phát triển, cũng như chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn lâm sàng.

Nội dung bộ sách bao quát khá đầy đủ các lĩnh vực từ lý luận Đông y đến bệnh học như: nội khoa, ngoại khoa, phụ khoa, nhi khoa, các bệnh ngũ quan; cùng với hệ thống bài thuốc, dược liệu và các phần bàn luận của các y gia tiền bối về phương pháp điều trị một số chứng bệnh trong Thương hàn luận và Thương hàn tạp bệnh luận của Trương Trọng Cảnh. Đồng thời, sách cũng đề cập kinh nghiệm vận dụng một số phương thuốc trong tổng số 113 phương của Trương Trọng Cảnh đã được các y gia như Ngô Hạc Cao áp dụng.

Từ việc nghiên cứu các học thuyết và kinh nghiệm của những danh y trong và ngoài nước, Hoàng Nguyên Cát đã rút ra nhiều bài học quý giá, đồng thời phát hiện và bổ sung một số chứng bệnh chưa được đề cập trong các sách kinh điển, như các chứng sản hậu, náu lao trong nữ khoa.

Ông đặc biệt quan tâm đến học thuyết tỳ vị của Lý Đông Viên, đánh giá cao bài thuốc "Bổ trung ích khí" và xem đây là một sáng tạo quan trọng. Trên cơ sở đó, ông tiếp tục phát triển, bổ sung những luận điểm mới về tỳ vị, đồng thời sáng tạo thêm nhiều bài thuốc điều trị như: Quy khí cao, Tam vị sâm du thang, Hương nhữ tán, Tề âm bằng sa tán, Ngọc địa tán…

Trong quá trình nghiên cứu các công trình "Hải Thượng Lãn Ông y tông tâm lĩnh" của Lê Hữu Trác, Hoàng Nguyên Cát đã bàn luận về việc vận dụng kinh dịch trong quá trình hoài thai của phụ nữ, đồng thời bổ sung và phát triển học thuyết thủy – hỏa. Nếu như Hải Thượng Lãn Ông chủ yếu đề cập đến thủy – hỏa của tạng thận, thì Hoàng Nguyên Cát đã mở rộng ra phạm vi lục phủ, ngũ tạng.

Trong quá trình khảo cứu 113 phương thuốc trong Thương hàn luận, ông tiến hành hiệu đính, khảo chính một số phương thuốc của Trương Trọng Cảnh, đồng thời giới thiệu thêm những phương thuốc mới được phát triển trên cơ sở các bài thuốc cổ phương, phù hợp với điều kiện thực tiễn của người bệnh ở Việt Nam.

Bộ sách "Quỳ viên gia học".

Bộ sách "Quỳ viên gia học".

Từ việc nghiên cứu các học thuyết và phương thuốc của các bậc tiền nhân, Hoàng Nguyên Cát cho rằng: "Y lý thật là bao la rộng rãi, chẳng khác gì rừng rậm và biển cả; người thầy thuốc phải gỡ mở cho được muôn ngàn sợi dây chắp thành một mối, phải thâu tóm muôn ngàn bệnh trạng vào đầu bu ngón tay. Lúc yên, lúc nguy, khi biến, khi thường, xử sự đều bình tĩnh mà trách nhiệm của người thầy thuốc cũng chưa đủ được".

Trong toàn bộ sự nghiệp y học của mình, ông luôn đề cao quan điểm kế thừa có chọn lọc những thành tựu của y học cổ truyền, từ đó phát triển sáng tạo các phương pháp và bài thuốc điều trị, đồng thời bổ sung những vị thuốc mới nhằm nâng cao hiệu quả chữa bệnh. Đây chính là quan điểm xuyên suốt, thể hiện tư duy khoa học và thực tiễn sâu sắc của ông.

Quan điểm đó không chỉ đặt nền móng cho sự phát triển của y học cổ truyền mà còn có ý nghĩa định hướng lâu dài, góp phần hình thành cách tiếp cận kế thừa và phát triển trong y học hiện đại, phục vụ hiệu quả công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân.

Bảo tồn, phát triển nguồn dược liệu

Trong sách Quỳ viên gia học, Hoàng Nguyên Cát đã ghi chép 198 vị thuốc; trong đó có nhiều cây thuốc, vị thuốc tại địa phương được sử dụng để chữa bệnh cho nhân dân như: Gừng, Hoắc hương, Hoàng lực, Sinh địa, Kinh giới, Hà thủ ô, Ý dĩ, Sơn dược, Thường sơn, Đại hồi, Sơn chi, Hạt cau, Quế, Kim ngân, Kinh giới, Hương nhu, Phụ tử, Càn khương, Phi tử, Hy thiêm, Tiền diệp, Trạch lan, Đương quỳ, Đẳng sâm, Đan sâm, Quế nhụ, Mạch môn…

Ông cũng bổ chính cách nhận biết, tác dụng và cách sử dụng một số vị thuốc nam như: Long cốt, Trạch lan, Tử hoa địa đinh, Phỉ tử, Hy thiêm, Vũ dư lương…; đồng thời hướng dẫn cách bào chế riêng đối với một số vị thuốc như Thục địa, cũng như lưu ý khi sử dụng các vị thuốc có tác dụng mạnh như Phụ tử.

Bên cạnh đó, trong Quỳ viên gia học, Hoàng Nguyên Cát còn ghi chép một số cây thuốc, vị thuốc ở địa phương chưa có trong các sách dược vật kinh điển. Ông đã nghiên cứu, đặt tên và đưa vào ứng dụng chữa bệnh cho nhân dân như: Hương nhữ, Tiền diệp, Xích hoa xà, Mỡ hươu….

Thấm nhuần tư tưởng của danh y Tuệ Tĩnh: "Nam dược trị Nam nhân" - thuốc Nam dùng chữa bệnh cho người Nam, Hoàng Nguyên Cát luôn chú trọng tìm hiểu các vị thuốc, bài thuốc từ nguồn dược liệu ở nhiều vùng miền, đồng thời đánh giá dược tính của từng vị thuốc thông qua thực tiễn chữa bệnh cho bệnh nhân.

Hoàng Nguyên Cát rất tâm đắc trước các nguồn dược liệu ở những vùng mà ông đã đến tìm kiếm và thể hiện rõ quan điểm phát triển nguồn dược liệu từng vùng miền để bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu của quê hương Nghệ An và của cả nước.

Hội thảo khoa học "Nghiên cứu thân thế, sự nghiệp cua Danh y Hoàng Nguyên Cát và các bài thuốc từ bộ sách Quỳ viên gia học đưa vào sử dụng trên địa bàn tỉnh Nghệ An".

Hội thảo khoa học "Nghiên cứu thân thế, sự nghiệp cua Danh y Hoàng Nguyên Cát và các bài thuốc từ bộ sách Quỳ viên gia học đưa vào sử dụng trên địa bàn tỉnh Nghệ An".

Một số vấn đề cơ bản về lý luận Đông y của danh y Hoàng Nguyên Cát

Bộ sách "Quỳ viên gia học" của Hoàng Nguyên Cát, trước khi trình bày các bài thuốc chữa bệnh hiệu quả và kinh nghiệm điều trị, tác giả đã dành phần quan trọng để bàn luận, phân tích các quan điểm về Đông y và một số vấn đề lý luận cơ bản.

Lý luận xuyên suốt đời làm nghề thầy thuốc của ông là phép ôn bổ, chú trọng ba mặt: Bồi bổ thủy – hỏa; điều hòa âm – dương; bình can, bổ tỳ và tư thận. Lý luận này được Hoàng Nguyên Cát xây dựng trên cơ sở xét đoán mối quan hệ giữa môi trường sống của con người ở từng vùng miền và bệnh tật.

Trong quá trình nghiên cứu về mạch từ các công trình như "Kim quỹ yếu lược, Mạch kinh", Hoàng Nguyên Cát đã đúc kết và khẳng định: "Người không có bệnh mà mạch có bệnh là một cái thây biết đi; người thường mà mạch đại thì mệt nhọc; người không có vị khí thì chết, mạch không có vị khí thì cũng chết". Ông giải thích: Vị khí là khí trung tiêu, nếu không đủ thì dễ sinh bệnh, mạnh quá thì bệnh nguy nan. Khám bệnh phải căn cứ vào mạch tượng là chủ yếu, còn triệu chứng và các phương pháp chẩn đoán còn lại chỉ để kết hợp tham khảo. Mạch là bản chất của bệnh, còn triệu chứng chỉ là bệnh tượng của bệnh.

Trong chẩn đoán, ông đặc biệt chú trọng việc xem mạch để tìm nguyên nhân bệnh, đồng thời tổng kết cần quan tâm đến hai hai mạch tiên thiên và hậu thiên của con người. Ông lý giải: "Bồi bổ thủy hỏa nhằm điều hòa tiên thiên; bổ tỳ thổ nhằm phục vụ cho hậu thiên". Quan điểm này được xây dựng trên nền tảng tư tưởng thiên – địa – nhân, con người và trời đất là một, con người là một tiểu thiên địa. Đó chính là cơ sở xét đoán mối quan hệ tương quan ảnh hưởng giữa môi trường sống của con người và bệnh tật.

Trong tập "Quỳ viên gia học" đã ghi lại nhiều bệnh án, cùng nhiều câu chuyện kể về việc Hoàng Nguyên Cát xem mạch, cho thấy ông là một thầy thuốc hiểu biết rất sâu sắc về mạch lý. Ông hết sức cẩn thận khi xem mạch, đối với những bệnh nhân được ông chẩn mạch qua nhiều lần, ông đều ghi lại, so sánh đối chiếu rồi mới rút ra kết luận về bệnh lý.

Còn những bệnh nhân mới xem mạch lần đầu, nếu chẩn thấy mạch hoạt, đại hoặc tế, như muốn tuyệt, nhưng xét thấy triệu chứng chưa đến nỗi khó khăn, nguy hiểm thì ông kết hợp tham khảo với Vọng, Văn, Vấn để chẩn đoán chứ không chỉ bằng căn cứ vào một Thiết mà thôi. Một vài bệnh án để chứng minh điều ấy.

Với những đóng góp to lớn, Hoàng Nguyên Cát được đánh giá là một danh y tiêu biểu của nền y học dân tộc Việt Nam. Bên cạnh việc kế thừa các cổ phương sử dụng thuốc Bắc, ông còn phát huy xuất sắc tư tưởng "Nam dược trị Nam nhân" của Tuệ Tĩnh thiền sư. Ông để lại nhiều tác phẩm có giá trị, tiêu biểu là Quỳ viên gia học gồm 11 quyển, bao gồm cả lý luận y học, kinh nghiệm trị bệnh và những bài thuốc quý dày trên 1000 trang trị đủ các bệnh thuộc các khoa Nam, Phụ, Lão, Ấu trị được Nội, Ngoại, Phụ, Sản, Nhi, Ngũ quan, tạp bệnh.

Đây là tài liệu chắt lọc tinh hoa của Y học cổ truyền, được đánh giá là một trong những công trình Y học xuất sắc trong thời trung đại Việt Nam và các cuốn kinh nghiệm, Y học gia truyền không chỉ có giá trị về Y học mà còn có giá trị Văn học, Lịch sử, Triết học.

TTND.DS Hoàng Văn Hảo

Nguồn SK&ĐS: https://suckhoedoisong.vn/quy-vien-gia-hoc-vien-ngoc-quy-cua-dong-y-viet-nam-169260420115339328.htm