Quyền thừa kế của con nuôi thực tế

Hỏi: Cô chú tôi hiếm muộn, không sinh được con nên năm 1986 có nhận nuôi con nuôi. Chú tôi mất năm 2018, cô tôi mất năm 2025 và đều không để lại di chúc. Xin hỏi người con nuôi đó có được quyền hưởng thừa kế tài sản của cô chú tôi không? (Ngô Công, phường Thuận An, TP Huế)

Trả lời: Luật sư Nguyễn Thị Hảo – Trưởng Văn phòng Luật sư Hảo Anh, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội cho biết: Theo quy định tại Điều 24 Luật Hôn nhân và gia đình 1959, việc nhận nuôi con nuôi phải được Ủy ban hành chính cơ sở nơi trú quán của người nhận nuôi hoặc của đứa trẻ công nhận và ghi vào sổ hộ tịch. Nếu cô chú bạn nhận nuôi con nuôi và được Ủy ban hành chính cơ sở công nhận thì người con đó là con nuôi hợp pháp của cô chú bạn.

Nếu cô chú bạn nhận nuôi con nuôi năm 1986 nhưng chưa đăng ký nuôi con nuôi tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng cô chú bạn đã chăm sóc, nuôi dưỡng người con đó và được mọi người công nhận thì người con đó được công nhận là con nuôi thực tế của cô chú bạn theo quy định của pháp luật.

Tại khoản 1 mục A phần II Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/7/1981 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế quy định: “Con nuôi được thừa kế phải là con nuôi hợp pháp, tức là việc nuôi con nuôi phải được Ủy ban nhân dân cơ sở nơi trú quán của người nuôi hoặc của đứa trẻ công nhận và ghi vào sổ hộ tịch (Điều 24 Luật Hôn nhân và gia đình). Tuy nhiên, trong thực tế có những trường hợp nhân dân chưa hiểu pháp luật cho nên chưa xin chính quyền công nhận và đăng ký vào sổ hộ tích việc nuôi con nuôi. Trong trường hợp này, nếu việc nhận con nuôi là ngay thẳng, cha mẹ đẻ của đứa trẻ hoàn toàn tự nguyện, việc nuôi dưỡng đứa trẻ được bảo đảm, thì coi là con nuôi thực tế. Con nuôi và bố mẹ nuôi có quyền thừa kế lẫn nhau”.

Điểm a mục 6 Nghị quyết 01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định: “a. Những điều kiện về nuôi con nuôi đã được quy định trong các Điều 34, 35, 36 và 37 nhưng trước khi Luật này được ban hành thì những điều kiện đó chưa được quy định đầy đủ. Vì vậy, những việc nuôi con nuôi trước khi ban hành Luật mới vẫn có giá trị pháp lý, trừ những trường hợp nuôi con nuôi trái với mục đích xã hội của việc nuôi con nuôi (như: Nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động hoặc để dùng con nuôi vào những hoạt động xấu xa, phạm pháp). Nếu việc nuôi con nuôi trước đây chưa được ghi vào sổ hộ tịch nhưng việc nuôi con nuôi đã được mọi người công nhận và cha mẹ nuôi đã thực hiện nghĩa vụ với con nuôi thì việc nuôi con nuôi vẫn có những hậu quả pháp lý do luật định”.

Theo quy định tại Điều 651, 653 Bộ luật Dân sự 2015 thì con nuôi là người thừa kế thuộc hàng thứ nhất, có quyền hưởng di sản thừa kế của cha mẹ nuôi. Cụ thể:

“Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.”

“Điều 653. Quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi và cha đẻ, mẹ đẻ

Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 651 và Điều 652 của Bộ luật này.”

Như vậy, con nuôi của cô chú bạn nếu không thuộc các trường hợp bị truất quyền thừa kế, từ chối nhận di sản thừa kế và người thừa kế không được quyền hưởng di sản thì được quyền hưởng di sản thừa kế của bố mẹ nuôi là cô chú bạn.

Ban KT-PL

Nguồn CAND: https://cand.vn/quyen-thua-ke-cua-con-nuoi-thuc-te-post818307.html