Quyết tâm hiện thực hóa tầm nhìn phát triển du lịch trong kỷ nguyên mới
Việc Chính phủ trình Quốc hội dự án Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI cho thấy sự vào cuộc khẩn trương, đồng bộ và đầy trách nhiệm của các cơ quan trong hệ thống chính trị nhằm triển khai Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22.8.2026 của Bộ Chính trị.

Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam hướng tới tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, tạo bước đột phá để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
Những cơ chế đang được đề xuất hướng tới tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, tạo điều kiện để ngành Du lịch hiện thực hóa những mục tiêu phát triển đầy tham vọng vào năm 2030.
Mục tiêu lớn đòi hỏi quyết tâm và nguồn lực tương xứng
Sáng 7.11, tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh đã trình bày Tờ trình của Chính phủ về dự án Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam.
Sự kiện tiếp tục khẳng định quyết tâm của Chính phủ trong việc cụ thể hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22.8.2026 của Bộ Chính trị “về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới”. Đồng thời cho thấy sự đồng hành, trách nhiệm của Quốc hội trong việc hoàn thiện thể chế, tạo điều kiện để các chủ trương lớn sớm đi vào cuộc sống.
Đây là bước tiếp nối quan trọng sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 26 và Chính phủ ban hành Nghị quyết số 263/NQ-CP ngày 7.9.2026 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 26.
Nếu Nghị quyết 26 xác lập tầm nhìn, quan điểm và những mục tiêu phát triển có tính dài hạn, Chương trình hành động của Chính phủ đã cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp, phân công trách nhiệm cho từng cơ quan, đơn vị.
Việc trình Quốc hội xem xét dự án Nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù tiếp tục bổ sung công cụ thể chế cần thiết, tập trung xử lý những vấn đề cấp bách đang cản trở năng lực phát triển của ngành Du lịch.
Có thể thấy, quá trình triển khai Nghị quyết 26 đang được thúc đẩy với tinh thần khẩn trương và quyết liệt. Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan của Quốc hội, đặc biệt, Bộ VHTTDL cùng các ban, bộ, ngành cùng tham gia vào quá trình hoàn thiện chủ trương, chính sách và tổ chức thực hiện.
Sự vào cuộc ấy mang ý nghĩa đặc biệt đối với một lĩnh vực có tính liên ngành cao như du lịch, bởi để tạo ra sức bật mới, ngành cần sự phối hợp đồng bộ về thể chế, đầu tư, giao thông, văn hóa, thương mại, nguồn nhân lực và xúc tiến thị trường.

Dự thảo Nghị quyết hướng tới phát triển du lịch Việt Nam theo hướng chất lượng cao, thông minh, xanh, sáng tạo, giàu bản sắc văn hóa, có giá trị gia tăng cao và đủ năng lực cạnh tranh trong khu vực cũng như trên trường quốc tế
Nghị quyết 26 đặt ra yêu cầu phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, một động lực tăng trưởng mới của đất nước, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Đây là định hướng có tầm vóc lớn, đòi hỏi sự thay đổi căn bản về tư duy và phương thức phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm, năng lực cạnh tranh, quy mô doanh nghiệp và hiệu quả đóng góp của du lịch đối với nền kinh tế.
Mục tiêu đến năm 2030 thể hiện rõ quy mô và mức độ tham vọng của định hướng này. Việt Nam phấn đấu hình thành 3 cực tăng trưởng du lịch tại Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng; 10 trung tâm du lịch trọng điểm; 20 khu du lịch quốc gia; 15 tập đoàn có thương hiệu mạnh. Cùng với đó là hệ thống cơ sở lưu trú khoảng 1,5 triệu buồng, tạo ra 2,3 triệu việc làm trực tiếp và 3,5 triệu việc làm gián tiếp.
Những chỉ tiêu trên phản ánh yêu cầu phát triển du lịch ở quy mô lớn hơn, có tổ chức và có sức lan tỏa mạnh hơn đối với các ngành kinh tế liên quan.
Ba cực tăng trưởng được định hướng sẽ giữ vai trò đầu tàu, tạo sức hút và phân phối dòng khách; các trung tâm du lịch, khu du lịch quốc gia cần có năng lực cạnh tranh, sản phẩm đặc sắc và hạ tầng đồng bộ.
Mục tiêu hình thành 15 tập đoàn có thương hiệu mạnh cũng cho thấy yêu cầu nâng tầm doanh nghiệp Việt Nam, tạo dựng những chủ thể đủ năng lực đầu tư, quản trị và cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Tuy nhiên, khoảng cách giữa mục tiêu và thực tiễn vẫn còn không ít thách thức. Số lượng tập đoàn có thương hiệu du lịch mạnh hiện còn ít; doanh nghiệp thiếu vốn đầu tư, nguồn nhân lực chất lượng cao và các đường bay trực tiếp đến thị trường nguồn.
Nhiều chính sách ưu đãi hiện hành chưa thực sự phát huy hiệu quả đối với doanh nghiệp du lịch. Những hạn chế này tác động trực tiếp đến khả năng mở rộng quy mô, nâng cấp sản phẩm và thu hút các nguồn lực đầu tư dài hạn.
Vì vậy, việc ban hành Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù được xác định là cần thiết nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, tạo động lực thực hiện những mục tiêu đến năm 2030.
Đây cũng là yêu cầu đặt ra từ thực tiễn phát triển, khi tiềm năng du lịch Việt Nam rất lớn nhưng năng lực khai thác, khả năng kết nối và giá trị gia tăng chưa tương xứng.
Trình bày Tờ trình trước Quốc hội, Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh cho biết, sau quá trình tiếp thu, chỉnh lý, dự thảo Nghị quyết gồm 14 điều, tập trung vào 7 nhóm chính sách. Các nội dung hướng tới ưu đãi đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp, phát triển mô hình du lịch mới, nâng cao chất lượng nhân lực, tạo thuận lợi về thị thực và huy động nguồn lực ngân sách cho du lịch.
Nhìn tổng thể, 7 nhóm chính sách được thiết kế nhằm giải quyết những vấn đề có quan hệ chặt chẽ với nhau. Đầu tư cần có hạ tầng và thị trường; doanh nghiệp muốn phát triển phải có vốn, nhân lực và môi trường kinh doanh thuận lợi; sản phẩm du lịch cần được hỗ trợ bởi công nghệ, giao thông và sự kết nối giữa các lĩnh vực.
Đây là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu phát triển du lịch theo hệ sinh thái kinh tế tổng hợp mà Nghị quyết 26 đã xác định.

Việc gắn kết phát triển du lịch với bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh sẽ góp phần nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của ngành, tạo nền tảng để du lịch phát triển bền vững
Quyết tâm chính trị phải được đo bằng hiệu quả thực thi
Quá trình xây dựng dự thảo Nghị quyết cho thấy sự phối hợp giữa Chính phủ, Bộ VHTTDL và các cơ quan của Quốc hội trong việc hoàn thiện chính sách. Trước khi trình tại Kỳ họp thứ 2, dự án đã được đưa ra thẩm tra, tiếp thu và chỉnh lý qua các phiên làm việc của Ủy ban Văn hóa và Xã hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Các nội dung được rà soát tập trung vào đối tượng, địa bàn ưu tiên, điều kiện phân loại dự án, tính thống nhất với hệ thống pháp luật, cơ chế kiểm soát và phân định thẩm quyền tổ chức thực hiện.
Dự thảo được xây dựng trên nguyên tắc bám sát Nghị quyết 26, lựa chọn những chính sách then chốt để tháo gỡ điểm nghẽn, tạo đột phá về nguồn lực.
Đồng thời, chính sách ưu đãi phải gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng, tiến độ, hiệu quả và tác động lan tỏa; tăng cường kiểm soát rủi ro, phòng ngừa trục lợi chính sách; phát huy vai trò dẫn dắt của Nhà nước và huy động nguồn lực xã hội cho phát triển du lịch.
Những nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng, bởi cơ chế đặc thù chỉ phát huy hiệu quả khi được thiết kế đúng đối tượng và gắn với kết quả cụ thể. Ưu đãi đầu tư cần tạo ra những dự án có chất lượng, bổ sung năng lực cho điểm đến và mang lại lợi ích cho cộng đồng.
Hỗ trợ doanh nghiệp mở đường bay mới cần gắn với khả năng duy trì thị trường, khai thác khách và hiệu quả vận hành. Chính sách phát triển nhân lực phải đáp ứng nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Nguồn vốn ngân sách cần tập trung vào hạ tầng có tính kết nối, tạo tác động lan tỏa cho nhiều địa phương và lĩnh vực.
Đặc biệt, mục tiêu hình thành 3 cực tăng trưởng du lịch, 10 trung tâm du lịch trọng điểm và 20 khu du lịch quốc gia đòi hỏi sự phối hợp liên vùng, liên ngành chặt chẽ.
Các địa phương cần xác định rõ vai trò trong mạng lưới du lịch quốc gia, phát triển sản phẩm có khả năng bổ trợ cho nhau, tăng kết nối giao thông và phối hợp xúc tiến thị trường.
Ba cực tăng trưởng cần phát huy năng lực đón khách, phân phối khách và kết nối với các điểm đến trong cả nước. Các trung tâm, khu du lịch trọng điểm phải tạo được sức hút riêng, có khả năng giữ khách và gia tăng mức chi tiêu.
Mục tiêu có 15 tập đoàn mang thương hiệu mạnh cũng đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước. Muốn hình thành những thương hiệu đủ sức cạnh tranh quốc tế, doanh nghiệp cần môi trường đầu tư minh bạch, khả năng tiếp cận vốn, nguồn nhân lực giỏi, năng lực quản trị hiện đại và điều kiện hợp tác với các đối tác toàn cầu.
Cùng với sự phát triển của các tập đoàn lớn, hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp địa phương và cộng đồng cần được tạo điều kiện tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Ở góc độ rộng hơn, phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn còn đòi hỏi thay đổi cách đánh giá hiệu quả tăng trưởng. Số lượng khách và quy mô cơ sở lưu trú là những chỉ tiêu quan trọng, nhưng chưa thể phản ánh đầy đủ chất lượng phát triển.
Thời gian lưu trú, mức chi tiêu, giá trị gia tăng, năng suất lao động, chất lượng việc làm và lợi ích cộng đồng cũng cần được quan tâm. Du lịch phải tạo ra thị trường cho văn hóa, nghệ thuật, ẩm thực, làng nghề, nông nghiệp và các ngành dịch vụ, qua đó mở rộng đóng góp vào nền kinh tế.
Nghị quyết 26 đã xác lập tầm nhìn phát triển du lịch Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động để cụ thể hóa nhiệm vụ; Bộ VHTTDL xây dựng kế hoạch triển khai.
Dự án Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù được trình Quốc hội xem xét, bổ sung công cụ thể chế cần thiết. Sự nối tiếp giữa các cấp độ lãnh đạo, quản lý và lập pháp cho thấy quyết tâm đưa du lịch lên vị thế mới đang được chuyển hóa thành những hành động cụ thể, có phân công và có lộ trình.
Tuy nhiên, ban hành chính sách mới mới là điều kiện mở đầu. Hiệu quả cuối cùng phụ thuộc vào chất lượng thực thi, trách nhiệm của từng cơ quan, sự chủ động của địa phương và năng lực nắm bắt cơ hội của doanh nghiệp.

Nghị quyết 26 xác định du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao; có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn, thúc đẩy tiêu dùng, mở rộng thị trường dịch vụ, tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá, tài nguyên thiên nhiên, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, nâng cao vị thế và sức mạnh mềm quốc gia
Các cơ chế ưu đãi cần được triển khai minh bạch, có giám sát và đánh giá định kỳ; những vướng mắc phát sinh phải được xử lý kịp thời, bảo đảm chính sách thực sự đến được với các chủ thể cần hỗ trợ.
Với những mục tiêu đặt ra đến năm 2030, phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn là nhiệm vụ lớn, cần sự vào cuộc bền bỉ và đồng bộ của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và người dân.
Sự quyết tâm của Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành trong quá trình triển khai Nghị quyết 26 đang tạo nền tảng quan trọng cho giai đoạn phát triển mới. Thước đo cao nhất của quyết tâm ấy sẽ là những chuyển biến thực chất về năng lực cạnh tranh, chất lượng sản phẩm, sức mạnh doanh nghiệp và đóng góp của du lịch đối với tăng trưởng đất nước.
