RECAF kích hoạt tiềm năng carbon từ nông lâm kết hợp
Dự án RECAF với quy mô gần 100 triệu USD được kỳ vọng sẽ tạo động lực mới cho quản lý rừng bền vững, phát triển nông lâm kết hợp và hoàn thiện thị trường carbon rừng.
Dự án gần 100 triệu USD hướng tới giảm 6,68 triệu tấn CO₂
Việt Nam đang từng bước hoàn thiện khung chính sách cho thị trường carbon nhằm thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Nền tảng pháp lý hiện nay được xây dựng trên Nghị định 06/2022/NĐ-CP và các nội dung sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 119/2025/NĐ-CP, tạo cơ sở cho việc quản lý tín chỉ carbon, triển khai cơ chế trao đổi - bù trừ carbon và phát triển thị trường carbon trong nước.

Việt Nam hiện có hơn 14,8 triệu ha rừng.
Trong lĩnh vực lâm nghiệp, hành lang pháp lý tiếp tục được hoàn thiện với Nghị định 180/2026/NĐ-CP về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng. Đồng thời, Bộ Tiêu chuẩn carbon rừng quốc gia và các văn bản hướng dẫn đang được xây dựng, mở đường cho việc phát triển các dự án carbon rừng và giao dịch tín chỉ carbon trong thời gian tới. Trong bối cảnh đó, nông lâm kết hợp ngày càng được xem là giải pháp vừa thích ứng với biến đổi khí hậu, phục hồi cảnh quan, vừa có tiềm năng tăng hấp thụ carbon, giảm phát thải từ sử dụng đất và tạo sinh kế bền vững cho người dân.
Tại webinar “Từ Nông lâm kết hợp đến Thị trường carbon rừng - Góc nhìn từ dự án RECAF” do Mạng lưới Nghiên cứu chính sách nông lâm nghiệp tổ chức sáng 15/7, TS. Nguyễn Ngọc Quang, Điều phối chương trình quốc gia của IFAD tại Việt Nam cho biết, Dự án RECAF (giảm thiểu khí thải ở khu vực Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ) có tổng vốn đầu tư khoảng 96 triệu USD và được triển khai trong giai đoạn 2026-2031. Dự án thực hiện theo cách tiếp cận cảnh quan tại bốn tỉnh: Đắk Lắk, Gia Lai, Lâm Đồng và Khánh Hòa.
Mục tiêu của RECAF là hỗ trợ Kế hoạch hành động REDD+ của Việt Nam thông qua bảo vệ rừng, thúc đẩy quản lý rừng dựa vào cộng đồng và xây dựng các chuỗi giá trị không gây mất rừng tại Tây Nguyên và Nam Trung Bộ. Diện tích can thiệp dự kiến khoảng 145.000 ha, trong đó có 90.000 ha mô hình nông lâm kết hợp và 55.000 ha quản lý rừng hợp tác đa bên. Đồng thời, dự án hướng tới hỗ trợ bảo vệ khoảng 500.000 ha rừng tự nhiên có giá trị cao. “Dự án đặt mục tiêu giảm hoặc tránh phát thải khoảng 6,68 triệu tấn CO₂ tương đương trong vòng đời 12 năm”, TS. Quang cho biết.
Nông lâm kết hợp được ưu tiên như một giải pháp giảm phát thải
Theo TS. Đỗ Trọng Hoàn, chuyên gia tài chính khí hậu, lâm nghiệp và REDD+, dự án sẽ ưu tiên chuyển đổi một số diện tích cây trồng cạn tại Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ sang mô hình nông lâm kết hợp. Các mô hình này bao gồm trồng xen cây lâu năm trong vườn cà phê, phát triển cây dược liệu dưới tán rừng hoặc trồng tre ở những khu vực phù hợp. “Theo báo cáo thiết kế dự án, các hệ thống nông lâm kết hợp tại khu vực dự án có tiềm năng hấp thụ khoảng 5-21 tấn CO₂ tương đương mỗi hecta”, TS. Hoàn cho biết.
Tuy nhiên, TS. Đỗ Trọng Hoàn cũng nhấn mạnh rằng, việc xác định cụ thể mô hình nào đóng góp bao nhiêu vào mục tiêu giảm phát thải vẫn đang được tiếp tục đánh giá thông qua hệ thống đo đạc - báo cáo - thẩm định (MRV) và xây dựng hệ số phát thải cho từng loại hình. Một trong những đóng góp quan trọng của RECAF là hỗ trợ xây dựng phương pháp luận và hệ thống MRV cho nông lâm kết hợp ở cấp quốc gia và cấp tỉnh - nền tảng cần thiết để lượng hóa kết quả giảm phát thải trong tương lai.
Bên cạnh mục tiêu giảm phát thải, RECAF còn đặt trọng tâm vào phát triển các chuỗi giá trị không gây mất rừng (Zero Deforestation Value Chains). Trong giai đoạn thiết kế, dự án đã xác định một số chuỗi lớn gồm cà phê, mắc ca, hồ tiêu, điều và cây ăn quả; đồng thời sẽ tiếp tục rà soát để bổ sung các chuỗi ngách và chuỗi quy mô nhỏ.
Để huy động khu vực tư nhân, dự án sẽ áp dụng bộ công cụ phát triển chuỗi giá trị mà IFAD đã hỗ trợ Việt Nam hơn 20 năm qua, bao gồm lập kế hoạch hành động chuỗi giá trị, đầu tư hạ tầng gắn với vùng sản xuất, hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp và hợp tác xã, cũng như thúc đẩy liên kết hợp đồng giữa doanh nghiệp và nông dân. “Ít nhất khoảng 60% ngân sách của dự án sẽ được hỗ trợ trực tiếp cho người dân thông qua đào tạo, nâng cao năng lực, xây dựng mô hình và các quỹ hỗ trợ chuyển đổi sản xuất”, ông Quang cho biết.
Một nội dung được nhiều đại biểu quan tâm là liệu RECAF có tạo ra tín chỉ carbon hay không? TS. Đỗ Trọng Hoàn cho biết, dự án không nhằm mục tiêu phát hành tín chỉ carbon, mà tập trung tạo ra kết quả giảm phát thải để đóng góp cho mục tiêu đóng góp quốc gia tự nguyện (NDC) của Việt Nam. “Dự án không hướng tới hỗ trợ tạo tín chỉ carbon rừng mà tập trung đóng góp vào mục tiêu giảm và tránh phát thải, đồng thời hỗ trợ phát triển các chuỗi giá trị không gây mất rừng. Mục tiêu quan trọng nhất vẫn là cải thiện sinh kế cho cộng đồng địa phương”, đại diện IFAD cũng nhấn mạnh.
Đối với mối quan hệ giữa dự án RECAF với Chương trình LEAF (Liên minh Giảm phát thải thông qua tăng cường tài chính lâm nghiệp) tại Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ, theo ông Quang, hai chương trình có thể chồng lấn về địa bàn nhưng khác biệt về nội dung can thiệp. LEAF tập trung vào rừng tự nhiên và chi trả cho kết quả giảm phát thải trong quá khứ, trong khi RECAF tập trung nhiều hơn vào nông lâm kết hợp và tạo ra kết quả giảm phát thải trong giai đoạn mới.
Sau bốn năm chuẩn bị và thiết kế, RECAF đã đi vào triển khai và được kỳ vọng sẽ trở thành một trong những chương trình trọng điểm góp phần hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường carbon và carbon rừng tại Việt Nam, đồng thời thúc đẩy quản lý rừng bền vững và thực hiện các mục tiêu giảm phát thải của quốc gia tại khu vực Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ.











