Rõ mục tiêu, đúng đối tượng trong giáo dục tăng cường và theo nhu cầu người học

Thông tư 85/2026/TT-BGDĐT đặt ra yêu cầu phân định rõ các loại hình hoạt động, bảo đảm nguồn lực và quyền lựa chọn của học sinh.

Cô trò Trường Tiểu học Hạ Hòa trong giờ học.

Cô trò Trường Tiểu học Hạ Hòa trong giờ học.

Phân định rõ hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa

Bộ GD&ĐT ban hành quy định về hoạt động giáo dục tăng cường và hoạt động giáo dục theo nhu cầu người học tại các cơ sở giáo dục phổ thông kèm theo Thông tư số 85/2026/TT-BGDĐT ngày 30/9/2026.

Theo bà Trần Thị Bích Hạnh, Phó Hiệu trưởng Trường Tiểu học Hạ Hòa, Phú Thọ, một điểm tích cực của Thông tư 85/2026/TT-BGDĐT là phân định rõ hai loại hình hoạt động giáo dục với mục tiêu khác nhau.

Cụ thể, hoạt động giáo dục tăng cường nhằm bổ sung những nội dung cơ bản, cần thiết mà mọi học sinh đều có cơ hội tiếp cận, chú trọng thực hành, trải nghiệm và vận dụng kiến thức. Trong khi đó, hoạt động giáo dục theo nhu cầu người học hướng đến mở rộng, nâng cao hoặc chuyên sâu theo sở thích, năng khiếu và định hướng phát triển cá nhân của học sinh.

Sự phân định này giúp nhà trường có căn cứ xây dựng kế hoạch giáo dục phù hợp, tránh tình trạng mọi hoạt động ngoài giờ chính khóa đều được tổ chức theo cùng một cách thức.

Một điểm đáng chú ý khác là định hướng giáo dục toàn diện, phát triển năng lực thực chất. Quy định về giáo dục tăng cường nhấn mạnh việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn, không làm phát sinh môn học mới hoặc tăng yêu cầu cần đạt của chương trình giáo dục phổ thông; đồng thời, tuyệt đối không tạo áp lực kiểm tra định kỳ đối với học sinh tiểu học.

Theo bà Hạnh, đây là hướng tiếp cận có ý nghĩa, chuyển trọng tâm từ việc học thêm kiến thức sang tạo thêm cơ hội để học sinh thực hành, khám phá và hình thành năng lực.

Quy định cũng đặt ra các yêu cầu nhằm bảo vệ cơ hội tiếp cận giáo dục và quyền tự chủ của học sinh. Hoạt động giáo dục tăng cường không được thu tiền của người học; hoạt động giáo dục theo nhu cầu phải dựa trên sự tự nguyện. Nhà trường không được gây áp lực hoặc sử dụng việc tham gia hoạt động để đánh giá, xếp loại học sinh. Nội dung thuộc trách nhiệm bảo đảm của Nhà nước cũng không được chuyển sang hoạt động có thu để thu kinh phí.

Cùng với đó, trách nhiệm giải trình của nhà trường được đặt ra rõ hơn. Nhà trường phải xây dựng kế hoạch riêng cho từng loại hình hoạt động, công khai các nội dung theo quy định và chịu trách nhiệm về chất lượng, đội ngũ, tài chính, an toàn cũng như quyền lợi của học sinh. Nếu phối hợp với đơn vị bên ngoài, trường phải thẩm định các điều kiện và quản lý quá trình thực hiện.

Gỡ vướng về nguồn lực, kiểm soát áp lực và bảo đảm công bằng

Bên cạnh những điểm tích cực, bà Trần Thị Bích Hạnh cho rằng quá trình triển khai vẫn có những vấn đề cần được quan tâm.

Trước hết, ranh giới giữa giáo dục tăng cường, giáo dục theo nhu cầu người học và dạy thêm có thể chưa dễ xác định trong thực tế. Dù Thông tư quy định việc phân loại phải căn cứ vào mục tiêu, nội dung, mức độ yêu cầu, thời gian và cách thức tổ chức, không căn cứ vào tên gọi, một số tình huống vẫn có thể dẫn đến cách hiểu khác nhau.

Bài toán kinh phí và nguồn lực cũng là thách thức đối với các trường công lập. Giáo dục tăng cường không thu tiền học sinh, nhưng để tổ chức có chất lượng, nhà trường vẫn cần kinh phí cho học liệu, thiết bị thực hành, cơ sở vật chất, nhân lực và các điều kiện bảo đảm an toàn. Theo quy định, kinh phí thực hiện phải được bảo đảm theo quy định của pháp luật.

Một vấn đề khác là nguy cơ tạo thêm áp lực cho học sinh và giáo viên. Dù hoạt động giáo dục theo nhu cầu phải dựa trên sự tự nguyện, học sinh và phụ huynh vẫn có thể cảm thấy cần tham gia vì lo con mình bị thiệt thòi so với bạn bè. Nếu thời gian tổ chức kéo dài, không tính toán hợp lý thời lượng học tập, nghỉ ngơi và đi lại, học sinh có thể mệt mỏi. Giáo viên cũng có thể phải đảm nhiệm thêm nhiều công việc trong khi thời gian chuẩn bị chuyên môn còn hạn chế.

Về công bằng trong tiếp cận giáo dục, quy định đặt ra yêu cầu bình đẳng về cơ hội, nhưng khả năng tham gia trên thực tế có thể khác nhau giữa các nhóm học sinh do điều kiện kinh tế gia đình, địa bàn sinh sống, khả năng đi lại, điều kiện tiếp cận công nghệ và sự sẵn có của các chương trình.

Chất lượng đội ngũ và trách nhiệm của các đơn vị phối hợp cũng cần được chú trọng. Không phải giáo viên nào cũng được đào tạo chuyên sâu về các lĩnh vực tổ chức hoạt động. Việc mời chuyên gia hoặc đơn vị ngoài trường có thể mở rộng cơ hội học tập, song đòi hỏi nhà trường phải thẩm định năng lực, xem xét chi phí, phương pháp tổ chức và bảo đảm an toàn cho học sinh.

Để triển khai hiệu quả, bà Hạnh đề xuất cần thống nhất nhận thức và hướng dẫn chuyên môn; khảo sát nhu cầu học sinh trước khi xây dựng kế hoạch; thiết kế chương trình thực chất, không chạy theo số lượng. Cùng với đó là bảo đảm nguồn lực, xây dựng cơ chế tài chính minh bạch, phát triển đội ngũ giáo viên và sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội.

Nhà trường cũng cần bảo đảm quyền lựa chọn, sức khỏe và sự công bằng của học sinh trong quá trình tổ chức hoạt động; đồng thời, đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá hiệu quả.

Theo bà Hạnh, vấn đề cốt lõi là tổ chức các hoạt động giáo dục phù hợp với nhu cầu, điều kiện của học sinh, đồng thời giữ vững mục tiêu giáo dục toàn diện, không để hoạt động tự nguyện trở thành áp lực và bảo đảm cơ hội tiếp cận bình đẳng giữa các nhóm học sinh.

Hải Bình

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/ro-muc-tieu-dung-doi-tuong-trong-giao-duc-tang-cuong-va-theo-nhu-cau-nguoi-hoc-post796461.html