Rõ trách nhiệm tái chế, xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu

Với nhiều điểm mới quan trọng, Nghị định 110/2026/NĐ-CP không chỉ làm rõ đối tượng phải thực hiện trách nhiệm tái chế, mức đóng góp tài chính hỗ trợ xử lý chất thải mà còn thiết lập lộ trình tăng dần tỷ lệ tái chế bắt buộc, tạo áp lực để doanh nghiệp chuyển đổi theo hướng sản xuất xanh, bền vững.

Nghị định số 110/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu. Nghị định này quy định chi tiết Điều 54 Luật Bảo vệ môi trường về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và Điều 55 Luật Bảo vệ môi trường về trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu (tên viết tắt tiếng Anh là EPR). Nghị định 110/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 25-5-2026.

Trách nhiệm tái chế sản phẩm bao bì của nhà sản xuất, nhập khẩu

Theo quy định, các nhà sản xuất, nhập khẩu sản phẩm, bao bì quy định tại phụ lục I của Nghị định khi đưa ra thị trường Việt Nam phải thực hiện trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì đó theo tỷ lệ, quy cách tái chế bắt buộc quy định tại Nghị định này.

Sản xuất hàng xuất khẩu tại Công ty CP Bóng đèn phích nước Rạng Đông. Ảnh: Hoài Nam

Sản xuất hàng xuất khẩu tại Công ty CP Bóng đèn phích nước Rạng Đông. Ảnh: Hoài Nam

Nghị định nêu các trường hợp cụ thể nhằm xác định đúng chủ thể chịu trách nhiệm như trường hợp sản phẩm, bao bì có cùng nhãn hiệu được sản xuất tại nhiều nhà sản xuất khác nhau thì tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa là đối tượng thực hiện trách nhiệm tái chế. Trường hợp tổ chức, cá nhân sản xuất là bên nhận gia công sản phẩm, bao bì cho bên đặt gia công, bên đặt gia công là đối tượng thực hiện trách nhiệm tái chế.

Theo Nghị định, bao bì quy định trên là bao bì thương phẩm (bao gồm cả loại bao bì trực tiếp và bao bì ngoài) theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa của sản phẩm, hàng hóa sau đây: thực phẩm theo quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm (trừ kẹo cao su); mỹ phẩm theo quy định của Chính phủ về điều kiện sản xuất mỹ phẩm; thuốc theo quy định của pháp luật về dược; phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y theo quy định của pháp luật về phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y; xà phòng, chất tẩy rửa, làm bóng và chế phẩm vệ sinh dùng trong nông nghiệp, y tế và hoạt động sinh hoạt; xi măng.

Nghị định quy định các đối tượng không phải thực hiện trách nhiệm tái chế như nhà sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm, bao bì để xuất khẩu, tạm nhập, tái xuất hoặc sản xuất, nhập khẩu cho mục đích nghiên cứu, học tập, thử nghiệm theo quy định tại khoản 1 điều 54 Luật Bảo vệ môi trường; nhà sản xuất, nhập khẩu có tổng doanh thu từ các sản phẩm quy định ở trên dưới 30 tỷ đồng/năm…

Bên cạnh đó, Nghị định quy định cụ thể về tỷ lệ tái chế bắt buộc. Tỷ lệ tái chế sẽ được điều chỉnh tăng theo chu kỳ 3 năm một lần, với mức tăng không quá 10% mỗi lần. Lần điều chỉnh đầu tiên dự kiến vào năm 2029. Cơ chế này giúp doanh nghiệp có thời gian thích nghi, đồng thời tạo áp lực nâng cao hiệu quả tái chế theo lộ trình.

Doanh nghiệp có thể lựa chọn nhiều hình thức thực hiện trách nhiệm tái chế như tự tái chế, thuê đơn vị tái chế hoặc ủy quyền cho tổ chức chuyên trách. Điều này tạo sự linh hoạt, phù hợp với năng lực và điều kiện của từng doanh nghiệp. Tuy nhiên, tất cả các đơn vị tham gia tái chế đều phải đáp ứng yêu cầu về giấy phép môi trường theo quy định.

Bên cạnh quy định bắt buộc, Nghị định cũng thiết lập cơ chế hỗ trợ tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động tái chế. Theo đó, các đơn vị tái chế hoặc tổ chức trách nhiệm tái chế có thể đề nghị hỗ trợ kinh phí dựa trên khối lượng sản phẩm, bao bì đã tái chế đạt chuẩn.

Giá trị tối đa của mỗi gói hỗ trợ được quy định rõ, dao động từ 10 tỷ đến 20 tỷ đồng tùy theo nhóm sản phẩm. Quy trình xét duyệt hỗ trợ được Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hàng năm, với mốc thời gian cụ thể. Trước ngày 1-6, cơ quan quản lý sẽ công bố các gói hỗ trợ; trước ngày 1-7, doanh nghiệp nộp hồ sơ và trong vòng 25 ngày làm việc sau đó sẽ hoàn tất việc xét duyệt. Sau đó, kết quả sẽ được công bố công khai.

Nếu đơn vị được hỗ trợ không ký hợp đồng trong thời hạn quy định gói hỗ trợ sẽ bị hủy và không được tham gia trong 5 năm tiếp theo.

Đóng góp tài chính hỗ trợ hoạt động xử lý chất thải

Nhà sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm, bao bì quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này để đưa ra thị trường Việt Nam có trách nhiệm đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam để hỗ trợ các hoạt động xử lý chất thải.

Nhà máy điện rác Seraphin do Tập đoàn AMACCAO làm chủ đầu tư. Ảnh: Công Phương

Nhà máy điện rác Seraphin do Tập đoàn AMACCAO làm chủ đầu tư. Ảnh: Công Phương

Cụ thể, trường hợp sản phẩm, bao bì có cùng nhãn hiệu được sản xuất tại nhiều nhà sản xuất khác nhau thì tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa là đối tượng thực hiện trách nhiệm đóng góp tài chính; bên đặt gia công để đưa ra thị trường Việt Nam; Tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm đóng góp tài chính là công ty mẹ hoặc công ty có các chi nhánh hạch toán độc lập được ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự để thực hiện trách nhiệm cho công ty con hoặc chi nhánh hạch toán độc lập.

Nhà sản xuất, nhập khẩu sản phẩm, bao bì để xuất khẩu, tạm nhập, tái xuất hoặc sản xuất, nhập khẩu cho mục đích nghiên cứu, học tập, thử nghiệm theo quy định tại khoản 1 Điều 55 Luật Bảo vệ môi trường; Nhà sản xuất, nhập khẩu có tổng doanh thu từ thuốc bảo vệ thực vật, sản phẩm quy định Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này dưới 30 tỷ đồng/năm không phải thực hiện trách nhiệm đóng góp tài chính để hỗ trợ các hoạt động xử lý chất thải.

Mức đóng góp tài chính cụ thể đối với từng sản phẩm, bao bì được quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này. Lãi tiền gửi ngân hàng của tiền đóng góp tài chính hàng năm được trích cho chi phí quản lý và hạch toán vào doanh thu của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam, quỹ bảo vệ môi trường cấp tỉnh hoặc tổ chức tài chính tương đương nhưng không quá 2% số tiền phân bổ, giải ngân trong năm, số tiền lãi gửi ngân hàng của tiền đóng góp tài chính sau khi trích cho chi phí quản lý được nhập vào tiền hỗ trợ hoạt động xử lý chất thải.

Mức đóng góp tài chính được điều chỉnh theo chu kỳ 5 năm một lần theo quy định; mỗi lần điều chỉnh đảm bảo không quá 15% của mức đóng góp trong chu kỳ liền trước; lần thay đổi đầu tiên vào năm 2031.

Trước ngày 1 tháng 4 hàng năm, nhà sản xuất, nhập khẩu kê khai số tiền đóng góp hỗ trợ hoạt động xử lý chất thải đối với sản phẩm, bao bì sản xuất, nhập khẩu được đưa ra thị trường của năm liền trước trên Hệ thống thông tin EPR quốc gia. Nhà sản xuất, nhập khẩu chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của thông tin trong bản kê khai.

Trước ngày 20 tháng 4 hàng năm, nhà sản xuất, nhập khẩu có trách nhiệm nộp đủ tiền đóng góp hỗ trợ hoạt động xử lý chất thải đã kê khai quy định tại khoản 1 Điều này vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam.

Công Phương

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/ro-trach-nhiem-tai-che-xu-ly-chat-thai-cua-nha-san-xuat-nhap-khau-787645.html