Sắc xuân làng nghề Bắc Ninh

Khi đào phai hé nụ bên triền sông, làn sương mỏng còn vương trên mái ngói cổ, miền Kinh Bắc bước vào xuân bằng một nhịp điệu rất riêng. Ở đó, mùa xuân không chỉ hiện diện trong lễ hội hay sắc màu phố thị mà còn được khơi dậy từ những làng nghề trăm tuổi - nơi bàn tay người thợ lặng lẽ gìn giữ ký ức, thổi hồn vào từng sản phẩm và làm nên cái Tết đủ đầy, ấm áp cho mỗi gia đình Việt.

Khởi nguồn từ những làng ven sông

Cũng giống những miền quê khác, ở Bắc Ninh, mùa xuân đến rất sớm với các làng nghề. Khi phố phường còn chưa thức giấc, nhiều làng quê đã rực sáng ánh đèn, bắt đầu một ngày lao động mới. Xuân khởi nguồn từ chính những gian xưởng ấy - nơi mùi gạo mới, mùi gỗ, mùi đất và ánh lửa hòa quyện vào nhau.

Ven bờ sông Cầu, tổ dân phố Thổ Hà (phường Vân Hà) - vùng đất cổ có lịch sử hàng trăm năm - bước vào ngày mới từ lúc chưa tới 4 giờ sáng. Nghề làm bánh đa nem ở đây đã trở thành mạch sống của làng, một di sản văn hóa sống động của vùng Kinh Bắc. Trên những phên tre xếp dài khắp lối đi, ngoài sân đình, bánh đa nem trắng ngà hong trong gió lạnh, tạo nên một bức tranh xuân giản dị mà ấm áp.

 Những phên bánh đa nem ở Thổ Hà được phơi dưới nắng nhẹ cuối năm.

Những phên bánh đa nem ở Thổ Hà được phơi dưới nắng nhẹ cuối năm.

Ông Trịnh Đăng Khoa, người gắn bó hơn 40 năm với nghề cho biết, để làm ra một chiếc bánh đạt chuẩn, mọi công đoạn đều phải chuẩn xác từ chọn gạo Khang Dân, ngâm nước muối theo tỷ lệ riêng, xay bột thật mịn, tráng bánh mỏng đều, hấp chín rồi phơi đúng nắng. “Giờ có máy móc hỗ trợ, năng suất tăng gấp nhiều lần, nhưng chất lượng bánh vẫn phải giữ như xưa”, ông Khoa nói. Mỗi ngày, gia đình ông làm ra khoảng 1.000 phên, tương đương khoảng 7.000 chiếc bánh. Vào dịp áp Tết Nguyên đán, gia đình ông tăng sản lượng thêm 3.500 chiếc bánh để đáp ứng các đơn hàng. Vì thế, thu nhập cũng tăng cao; trung bình, hai vợ chồng ông mỗi ngày thu lãi khoảng 700 - 800 nghìn đồng.

Theo ông Bùi Công Lý, một thợ lành nghề lâu năm, công đoạn phơi bánh chính là “bí quyết” của Thổ Hà. “Phơi vừa nắng thì bánh mới dẻo, ngâm nước vẫn dai mà không bở”, ông nói. Giờ đây, nhờ máy sấy điện, người dân chủ động hơn, không còn cảnh “trông trời, trông đất” như trước.

Thổ Hà không có ruộng, ba mặt giáp sông. Khi nghề gốm mai một vào đầu thế kỷ XX, người dân đã chuyển hẳn sang làm bánh đa nem. Từ đó đến nay, nghề bánh đã nuôi sống bao thế hệ. Hiện tổ dân phố có hơn 300 hộ làm nghề với trên 1.000 lao động. Đặc biệt, ngày 27/6/2025, nghề làm bánh đa nem Thổ Hà đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia - một dấu mốc khẳng định giá trị bền bỉ của nghề trong dòng chảy hiện đại.

Rời Thổ Hà, mạch xuân tiếp tục lan tỏa đến những miền nghề khác. Ở làng nghề Đồng Kỵ (phường Đồng Nguyên), tiếng đục, tiếng máy hòa trong ánh đèn xưởng gỗ từ sáng đến khuya. Những bộ sập thờ, hoành phi, câu đối được hoàn thiện cho kịp Tết, gửi gắm vào đó sự cẩn trọng và niềm tin về một năm mới hanh thông. Hay như ở làng nghề Phù Lãng (xã Phù Lãng), những lò gốm đỏ lửa suốt ngày đêm. Men da lươn trầm ấm, dáng gốm mộc mạc mà tinh tế. Người thợ bảo rằng, gốm đẹp nhất là khi được làm vào tiết trời cuối năm - lúc đất, nước và lửa hòa quyện hoàn hảo.

Giữ mạch nghề xưa trong nhịp sống mới

Bắc Ninh không chỉ có vài làng nghề nổi tiếng mà là vùng đất trăm nghề, nơi mỗi làng đều mang trong mình một câu chuyện về sự dẻo dai và thích ứng. Từ gốm Phù Lãng đến bánh đa nem Thổ Hà, rượu làng Vân... nhiều cơ sở sản xuất đã mạnh dạn đổi mới, xây dựng thương hiệu, góp phần tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân. Vào dịp cuối năm, sản lượng của mỗi cơ sở có thể tăng từ 5 - 10% so với những tháng trước đó.

 Sản xuất bình gốm phục vụ Tết ở làng nghề Phù Lãng.

Sản xuất bình gốm phục vụ Tết ở làng nghề Phù Lãng.

Tại thôn Phù Lãng, cơ sở Gốm Ngọc là một ví dụ tiêu biểu cho sự sáng tạo trong truyền thống. Được cấp chứng nhận sản xuất, kinh doanh từ năm 2008, xưởng gốm rộng hơn 1.000 m² quy hoạch khoa học, có không gian dành cho trưng bày, trải nghiệm. Hiện cơ sở tạo ra khoảng 1.000 tác phẩm nghệ thuật như bình, lọ hoa, thác nước phong thủy, ấm chén, lư xông trầm, nến dưỡng sinh, bích họa gốm trang trí sân vườn… với men da lươn truyền thống.

Chị Đoàn Minh Ngọc, chủ cơ sở cho biết, vợ chồng chị là đời thứ tư theo nghề gốm. Để bắt nhịp thị trường, anh chị đã sáng tạo dòng men “sạch” từ tro trấu, củi, thân sen, phù sa sông Cầu thân thiện với môi trường. Sản phẩm Gốm Ngọc đạt nhiều giải thưởng uy tín trong năm 2025, hiện được tiêu thụ rộng rãi trong nước và xuất khẩu sang Thái Lan, Hàn Quốc... “Giữ nghề không chỉ là giữ kỹ thuật cũ mà phải làm cho nghề sống được trong đời sống hôm nay. Muốn vậy, mỗi người thợ, nghệ nhân phải dành hết tâm sức, trân quý cho từng sản phẩm của mình”, chị Ngọc chia sẻ.

Theo chị Nguyễn Thị Tình, Trưởng thôn Phù Lãng, làng nghề nơi đây (bao gồm các thôn: Phù Lãng, Thủ Công, Đoàn Kết) có hơn 200 hộ làm gốm, riêng thôn Phù Lãng có khoảng 100 hộ. Nếu trước kia chỉ sản xuất chum, vại, tiểu sành theo dáng cổ, thì nay nhiều con em tốt nghiệp đại học mỹ thuật đã trở về làng, trở thành nghệ nhân, tạo ra các dòng sản phẩm nghệ thuật giá trị cao. Cùng với nỗ lực của người dân, nhiều dự án bảo tồn do tỉnh và Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) hỗ trợ đã giúp Phù Lãng gìn giữ và phát huy thương hiệu gốm truyền thống.

Không chỉ gốm, các làng nghề Bắc Ninh được chia thành 5 nhóm ngành nghề, từ chế biến nông sản, thủ công mỹ nghệ đến sinh vật cảnh, dịch vụ nông thôn. Thông qua Chương trình OCOP và chính sách hỗ trợ làng nghề, tỉnh đã đầu tư hàng tỷ đồng để hỗ trợ xây dựng thương hiệu, tem nhãn, mở rộng thị trường. Nhờ đó, những sản phẩm như Rượu Làng Vân đã được công nhận OCOP 4 sao, trở thành thương hiệu quen thuộc với người tiêu dùng.

Dù vậy, các làng nghề vẫn đối mặt không ít thách thức như quy mô nhỏ, ô nhiễm môi trường, khó khăn về đầu ra. Theo ông Lưu Văn Khải, Chi cục trưởng Chi cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Sở Nông nghiệp và Môi trường Bắc Ninh), yếu tố then chốt là giữ và phát triển đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi, khuyến khích sáng tạo, truyền nghề, gắn bảo tồn với phát triển du lịch và kinh tế xanh.

Mỗi độ xuân về, những sản phẩm từ các làng nghề lại theo chân thương lái đi khắp mọi miền, hiện diện trong mâm cỗ, trong không gian sum họp của mỗi gia đình. Phía sau cái Tết đủ đầy ấy là công sức của bao đêm thức trắng, bao bàn tay thô ráp của những người thợ và khát vọng giữ nghề không bao giờ tắt. Sắc xuân làng nghề Bắc Ninh vì thế không chỉ là sắc màu của sản phẩm mà còn là sắc xuân của niềm tin, bản sắc và của vùng đất trăm nghề đang lặng lẽ chuyển mình bước vào tương lai.

Bài, ảnh: Đỗ Thành Nam

Nguồn Bắc Ninh: https://baobacninhtv.vn/sac-xuan-lang-nghe-bac-ninh-postid437548.bbg