Sáng ngời tinh thần yêu nước, vững bền khí tiết người cộng sản

Đối với Đảng bộ và Nhân dân Thanh Hóa - mảnh đất chứng kiến sự hy sinh anh dũng của đồng chí Hồ Tùng Mậu - việc tưởng nhớ và tri ân đồng chí càng thêm sâu nặng nghĩa tình. Tấm gương về lòng trung thành vô hạn, đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và tình yêu thương đồng bào của đồng chí mãi là ngọn đuốc soi đường cho các thế hệ hôm nay.

Kỷ niệm 130 năm Ngày sinh đồng chí Hồ Tùng Mậu (15/6/1896 - 15/6/2026)

Có những cuộc đời, dù đã đi qua, vẫn mãi tỏa sáng như ngọn lửa soi đường cho hậu thế. Đồng chí Hồ Tùng Mậu là một cuộc đời như thế - người chiến sĩ cộng sản tiêu biểu, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng Đảng. Nhân kỷ niệm 130 năm Ngày sinh đồng chí (15/6/1896 - 15/6/2026), chúng ta thành kính tưởng nhớ một tấm gương trọn đời yêu nước, kiên cường, cống hiến cho Tổ quốc.

Người con của vùng quê địa linh nhân kiệt

Đồng chí Hồ Tùng Mậu, tên khai sinh là Hồ Bá Cự, sinh ngày 15/6/1896. Chí hướng và cốt cách của người chiến sĩ cộng sản kiên trung ấy vốn được nuôi dưỡng từ một vùng đất giàu truyền thống: làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An (nay là xã Quỳnh Anh, tỉnh Nghệ An) - mảnh đất giàu truyền thống văn hóa, yêu nước và cách mạng, nơi sản sinh ra biết bao bậc tiền bối lưu danh sử sách.

Không chỉ thấm đẫm khí chất của quê hương, tinh thần bất khuất trong con người đồng chí còn được hun đúc từ truyền thống gia đình. Ông nội là Phó bảng Hồ Bá Ôn, làm quan đến chức Án sát tỉnh Nam Định, đã anh dũng hy sinh khi chỉ huy giữ thành Nam Định 1883. Cha là cử nhân Hồ Bá Kiện - người đã khước từ chốn quan trường để tham gia phong trào Văn thân, rồi bị thực dân Pháp bắt giam và bắn chết khi lãnh đạo cuộc khởi nghĩa phá ngục tại Nhà tù Lao Bảo.

Lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, tận mắt chứng kiến sự hy sinh oanh liệt của các thế hệ đi trước, người thanh niên Hồ Bá Cự sớm nung nấu ý chí lớn và quyết tâm đi tìm con đường cứu nước, cứu nhà.

Bác Hồ (người ngồi đầu tiên, từ phải sang) chụp ảnh cùng một số Ủy viên Trung ương Đảng khóa II (năm 1951) tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang. Đồng chí Hồ Tùng Mậu đứng thứ tư, từ phải sang. (Ảnh: Tư liệu)

Bác Hồ (người ngồi đầu tiên, từ phải sang) chụp ảnh cùng một số Ủy viên Trung ương Đảng khóa II (năm 1951) tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang. Đồng chí Hồ Tùng Mậu đứng thứ tư, từ phải sang. (Ảnh: Tư liệu)

Tháng 4/1920, người thanh niên yêu nước ấy cùng một số đồng chí nơi quê nhà rời xa Tổ quốc, ra nước ngoài hoạt động cách mạng. Năm 1923, tại Trung Quốc, đồng chí cùng những người cùng chí hướng thành lập Tâm Tâm xã - một tổ chức có xu hướng cách mạng, nhằm mục đích đấu tranh giải phóng dân tộc.

Tháng 11/1924, khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô tới Quảng Châu (Trung Quốc), Người đã tiếp xúc và kết nạp một số thành viên tích cực của Tâm Tâm xã vào tổ chức Cộng sản Đoàn, làm hạt nhân thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Từ cuộc gặp gỡ định mệnh ấy, Hồ Tùng Mậu được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp đào tạo, dìu dắt theo con đường cách mạng vô sản.

Bằng sự thông minh, nhạy bén và lòng nhiệt huyết, đồng chí nhanh chóng trở thành người học trò đắc lực, người cộng sự tin cậy của Nguyễn Ái Quốc trong suốt thời gian Người hoạt động tại Quảng Châu. Tiếp nhận ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng chí dồn hết tâm trí và nghị lực để tổ chức các lớp huấn luyện chính trị đặc biệt, làm trợ giảng, dịch thuật tài liệu, hướng dẫn học viên thảo luận; đồng thời tích cực tham gia xuất bản tờ tuần báo Thanh niên, dự thảo Điều lệ Hội và làm Ủy viên ngoại giao của Chi hội Việt Nam trong Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông.

Tháng 5/1929, tại Đại hội lần thứ nhất của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, đồng chí được bầu làm Ủy viên chính thức của Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Cuối năm đó, đồng chí gia nhập An Nam Cộng sản Đảng và tích cực vận động cho sự hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất.

Mùa Xuân năm 1930, khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Hồ Tùng Mậu vinh dự đảm nhận trọng trách làm người giúp việc và thư ký của hội nghị, có công đóng góp to lớn vào việc chấm dứt cuộc khủng hoảng về tổ chức lãnh đạo của cách mạng nước nhà.

Bản lĩnh của người cộng sản Hồ Tùng Mậu không chỉ tỏa sáng trong những hoạt động sôi nổi nơi đất khách, mà còn được thử thách khắc nghiệt qua chặng đường hơn 14 năm bị giam cầm trong lao tù đế quốc. Tháng 6/1931, khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát Hương Cảng (Hồng Kông) bắt giữ, chính đồng chí Hồ Tùng Mậu đã mưu trí liên hệ với Hội Quốc tế Cứu tế Đỏ và mời luật sư Loseby bào chữa cho Người. Vì hành động nghĩa tình ấy, đồng chí bị nhà cầm quyền Hồng Kông bắt giam rồi trục xuất. Ngày 30/6/1931, vừa đặt chân đến Thượng Hải, đồng chí bị mật thám thực dân Pháp bắt giải về Việt Nam và kết án tù chung thân.

Trải qua những năm tháng đằng đẵng nơi nhà tù Hỏa Lò, nhà lao Kon Tum đến nhà đày Buôn Ma Thuột (từ năm 1933 đến năm 1941), đồng chí vẫn luôn giữ vững khí tiết kiên trung. Giữa chốn lao tù tăm tối, tinh thần lạc quan và lòng thương yêu đồng chí, đồng bào của đồng chí vẫn luôn tỏa sáng. Đồng chí trở thành trung tâm đoàn kết, lãnh đạo anh em tù chính trị giữ nghiêm kỷ luật, khôn khéo đấu tranh đòi cải thiện đời sống, và bằng ý chí phi thường đã biến nhà tù đế quốc thành trường học lý luận cách mạng.

Nhà lãnh đạo tài năng, tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời

Sau khi được trả tự do, đồng chí Hồ Tùng Mậu tìm cách bắt liên lạc với Đảng, tiếp tục hoạt động cách mạng và tích cực tham gia chuẩn bị lực lượng cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, tài năng lãnh đạo của đồng chí ngày càng được khẳng định.

Năm 1946, đồng chí được giao phụ trách Trường Quân chính ở Nhượng Bạn (Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh) để đào tạo cán bộ quân sự phục vụ kháng chiến, kiến quốc.

Cuối năm 1946, đồng chí được Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh ủy nhiệm làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến (sau là Ủy ban Kháng chiến Hành chính) Liên khu IV, đồng thời là Ủy viên Thường vụ Liên khu ủy. Trên cương vị này, đồng chí đã sâu sát thực tế, củng cố tổ chức bộ máy, kiện toàn lề lối làm việc và chỉ đạo quân dân chuẩn bị các điều kiện sẵn sàng chiến đấu.

Đồng chí Hồ Tùng Mậu. (Ảnh: Tư liệu)

Đồng chí Hồ Tùng Mậu. (Ảnh: Tư liệu)

Đặc biệt, ngày 18/12/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 138/B-SL thành lập Ban Thanh tra Chính phủ và cử đồng chí Hồ Tùng Mậu giữ chức Tổng Thanh tra. Đảm nhiệm trọng trách này, đồng chí đã đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng hệ thống lý luận của ngành Thanh tra Việt Nam. Với tinh thần tận tụy và công tâm, đồng chí trực tiếp chỉ đạo xử lý nghiêm minh nhiều vụ việc tiêu cực, tham ô lớn, điển hình như sai phạm về tín dụng sản xuất ở Liên khu III hay vụ án Trần Dụ Châu biển thủ công quỹ trong quân đội. Những đợt kiểm tra sâu sát, thấu tình đạt lý ấy đã góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước, củng cố niềm tin vững chắc của Nhân dân với Đảng và Chính phủ.

Đầu năm 1950, đồng chí được phân công làm Hội trưởng đầu tiên của Hội Việt - Hoa hữu nghị, nêu cao tinh thần quốc tế vô sản trong sáng để thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai nước.

Tháng 2/1951, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, đồng chí vinh dự được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Dù ở cương vị nào, đồng chí Hồ Tùng Mậu cũng luôn là một người cán bộ cương trực, trung hậu, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Đồng chí gần dân, lắng nghe ý kiến của dân và cán bộ, làm việc dân chủ, khoa học, minh bạch. Ở đồng chí toát lên đạo lý sống ngàn đời của dân tộc: yêu nước, thương nòi, nhân ái với con người.

Khi sự nghiệp cách mạng đang ở độ chín với những cống hiến to lớn, một mất mát lớn lao đã đến với Đảng và dân tộc. Ngày 23/7/1951, trên đường vào Liên khu IV công tác, tại thị trấn Còng, tỉnh Thanh Hóa, đồng chí Hồ Tùng Mậu bị máy bay địch phát hiện, đuổi bắn và đã anh dũng hy sinh. Sự ra đi đột ngột của đồng chí để lại niềm tiếc thương vô hạn cho toàn Đảng, toàn dân. Đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm Trưởng ban Lễ tang và đọc điếu văn tiễn biệt người học trò, người cộng sự thân thiết của mình bằng những lời lẽ chan chứa nghĩa tình.

Với 55 tuổi đời và hơn 30 năm hoạt động cách mạng gian khổ, đồng chí đã hiến dâng trọn vẹn trí tuệ và cuộc sống cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ghi nhận những công lao và phẩm chất cao đẹp ấy, Đảng và Nhà nước đã trân trọng trao tặng đồng chí Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh cùng nhiều huân, huy chương cao quý khác.

Đối với Đảng bộ và Nhân dân Thanh Hóa - mảnh đất chứng kiến sự hy sinh anh dũng của đồng chí Hồ Tùng Mậu, việc tưởng nhớ và tri ân đồng chí càng thêm sâu nặng nghĩa tình. Tấm gương về lòng trung thành vô hạn, đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và tình yêu thương đồng bào của đồng chí mãi là ngọn đuốc soi đường cho các thế hệ hôm nay.

Trân trọng quá khứ, tự hào về con đường cha anh đã đi, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân nguyện biến lòng biết ơn thành những hành động thiết thực, chung sức xây dựng quê hương, đất nước phát triển nhanh, bền vững, tự tin bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc.

Ngân Hà

Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/sang-ngoi-tinh-than-yeu-nuoc-vung-ben-khi-tiet-nguoi-cong-san-291137.htm