Sử dụng kháng sinh có kiểm soát - Chiến lược phát triển chăn nuôi bền vững
Từ giữa thế kỷ 20, kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi (sử dụng liều lượng kháng sinh dưới mức điều trị) nhằm mục đích phòng bệnh, cải thiện khả năng sử dụng thức ăn, thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao sản lượng vật nuôi.
CHĂN NUÔI KHÔNG KHÁNG SINH - YÊU CẦU CẤP THIẾT
Theo thời gian, những nhược điểm của việc sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi với thời gian kéo dài, có thể gây áp lực chọn lọc lên tình trạng kháng thuốc kháng sinh trong quần thể vật nuôi, đưa đến sự gia tăng nguy cơ phát triển các chủng vi khuẩn kháng kháng sinh trên cả lĩnh vực y tế và thú y, từ đó đẩy nhanh sự xuất hiện của vi khuẩn kháng đa thuốc.

Đĩa kháng sinh, sử dụng kháng sinh điều trị vật nuôi.
Hiện tượng này đã chuyển các loại kháng sinh đã từng hiệu quả sang kém hoặc không hiệu quả trong điều trị bệnh.
Do vậy, việc sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi từng bước tác động tiêu cực đến sức khỏe và sản lượng vật nuôi bởi nó ức chế hệ miễn dịch, làm giảm hiệu quả của vaccine và phá vỡ sự cân bằng hệ vi khuẩn có lợi trong đường ruột, gây rối loạn tiêu hóa.
Đồng hành cùng Hội Chăn nuôi, thời gian qua, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đồng Tháp đã phối hợp tổ chức các hội nghị tuyên truyền, thông tin phổ biến kiến thức qua chuyên mục “Tri thức phục vụ đời sống”, qua đó góp phần tuyên truyền đến hội viên và người chăn nuôi về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước liên quan đến lĩnh vực chăn nuôi, thú y, bảo vệ môi trường và phát triển nông nghiệp bền vững.
Để đáp ứng nhu cầu về protein động vật ngày càng tăng lên trên toàn cầu, việc mở rộng của chăn nuôi dẫn đến việc gia tăng sử dụng thuốc kháng sinh, góp phần vào sự xuất hiện và lan rộng của tình trạng kháng thuốc kháng sinh.
Theo các nghiên cứu, có khoảng 50% lượng kháng sinh được sản xuất trên toàn cầu được sử dụng cho ngành chăn nuôi. Ước tính sử dụng kháng sinh ở người khoảng 118 mg/kg và 133 mg/kg ở vật nuôi.
Khi nhân các con số này với khối lượng sinh học ước tính khoảng 35.000 tấn/năm ở người, so với 85.000 tấn ở vật nuôi. Điều đó có nghĩa là vật nuôi chiếm khoảng 72% tổng lượng kháng sinh được sử dụng.
Theo các chuyên gia, vấn đề tồn dư kháng sinh trong các sản phẩm chăn nuôi hiện nay là mối quan ngại đáng kể cho sức khỏe người tiêu dùng, việc tiêu thụ kháng sinh tồn dư trong thịt, trứng, sữa và các sản phẩm khác có thể tích lũy theo thời gian trong cơ thể con người, kháng sinh có khả năng gây ra các phản ứng dị ứng, phá vỡ sự cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột và làm suy yếu chức năng miễn dịch, gây ra mối đe dọa đáng kể đối với sức khỏe con người.
Hơn nữa, chất thải của vật nuôi chứa dư lượng kháng sinh, xâm nhập vào môi trường và gây ô nhiễm nước, đất và không khí, làm phá vỡ cân bằng sinh thái.
Trước áp lực từ các tổ chức quốc tế và người tiêu dùng, xu hướng chăn nuôi không kháng sinh đang trở thành yêu cầu cấp thiết, Việt Nam đã ban hành Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21-1-2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi; Nghị định số 46/2022/NĐ-CP ngày 13-7-2022 sửa đổi 1 số điều của Nghị định số 13/2020/NĐ-CP. Theo đó, tại Điều 12 quy định rõ: Thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh để phòng bệnh được cho phép ở heo con có khối lượng đến 25 kg hoặc từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi; gà, vịt, ngan, chim cút từ 1 - 21 ngày tuổi; thỏ từ sơ sinh đến 30 ngày tuổi; bê, nghé từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi; đồng thời chỉ được sử dụng kháng sinh trong sản xuất thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho gia súc, gia cầm và thức ăn tinh cho gia súc ăn cỏ.
XÂY DỰNG NGÀNH CHĂN NUÔI AN TOÀN, BỀN VỮNG
Như vậy, kể từ ngày 1-1-2026, kháng sinh sẽ không còn được phép sử dụng trong thức ăn chăn nuôi với mục đích phòng bệnh. Trước đó, năm 2018, Việt Nam đã cấm dùng kháng sinh kích thích sinh trưởng, nay tiến tới loại bỏ hoàn toàn kháng sinh phòng bệnh.
Chính vì thế, kháng sinh sẽ chỉ được phép dùng để điều trị bệnh động vật khi vật nuôi được chẩn đoán mắc bệnh và phải theo đơn thuốc của người được phép kê đơn thuốc thú y.
Đây được coi là bước ngoặt lớn, vừa tạo ra thách thức không nhỏ cho ngành chăn nuôi, vừa mở ra cơ hội thúc đẩy sự chuyển đổi sang hướng an toàn, bền vững.

Cán bộ thú y kiểm tra vật nuôi.
Trước lộ trình cấm kháng sinh, nhiều doanh nghiệp đã chủ động thay đổi, thử nghiệm và tung ra các giải pháp thay thế. Khối FDI (các Công ty như: C.P, De Heus, CJ, Japfa…), đẩy mạnh nghiên cứu công thức thức ăn không kháng sinh, bổ sung phụ gia sinh học, enzyme; đầu tư chuỗi chăn nuôi khép kín nhằm kiểm soát dịch bệnh.
Doanh nghiệp trong nước như: GreenFeed, Dabaco, Masan MEATLife…, tung ra sản phẩm thịt “không kháng sinh”, xây dựng thương hiệu dựa trên yếu tố an toàn. Ngành dược thú y có xu hướng chuyển dịch sang vaccine, chế phẩm vi sinh, thảo dược.
Với quy mô chăn nuôi trọng điểm tại Đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Đồng Tháp hiện sở hữu tổng đàn gia cầm lên đến 22,9 triệu con và đàn heo khoảng 460,9 nghìn con.
Hằng năm, địa phương cung ứng cho thị trường khoảng 1,1 triệu con heo và 1,7 tỷ quả trứng.
Tuy nhiên, ngành chăn nuôi tỉnh nhà vẫn đang đối mặt với thách thức lớn từ việc sử dụng kháng sinh dưới mức điều trị, đặc biệt là thói quen trộn kháng sinh vào thức ăn, nước uống để “phòng bệnh” ngay cả khi đàn vật nuôi đang khỏe mạnh.
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi tỉnh Đồng Tháp gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh, biến động giá cả thị trường, chi phí đầu vào tăng cao, yêu cầu ngày càng khắt khe về an toàn thực phẩm, môi trường và truy xuất nguồn gốc.
Đặc biệt, dịch tả heo châu Phi, tình trạng giá heo hơi biến động mạnh, nguy cơ dư cung ở ngành gia cầm cùng áp lực cạnh tranh từ sản phẩm nhập khẩu đã tác động trực tiếp đến đời sống và thu nhập của người chăn nuôi.
Nhằm khắc phục tình trạng trên, Hội Chăn nuôi đã phối hợp cùng Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh tổ chức định kỳ các lớp tập huấn nhằm phổ biến lộ trình của Chính phủ về việc hạn chế sử dụng kháng sinh dưới mức điều trị.
Công tác tuyên truyền tập trung vào việc kiểm soát và sử dụng kháng sinh theo các nguyên tắc cốt lõi: chỉ sử dụng khi có nhiễm khuẩn, chọn đúng loại, đúng liều lượng, đúng liệu trình, đúng đường đưa thuốc và tuân thủ thời gian ngừng thuốc.
Bên cạnh đó, các giải pháp thay thế kháng sinh cũng được ưu tiên khuyến cáo bao gồm: Probiotics, Prebiotics, axit hữu cơ, hợp chất phytogenic, enzyme, peptide kháng khuẩn, thực khuẩn thể và vaccine.
Cùng với đó, Hội Chăn nuôi tỉnh Đồng Tháp tổ chức tốt công tác vận động hội viên, chuyển giao khoa học kỹ thuật, hỗ trợ người dân phát triển kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất chăn nuôi, góp phần lan tỏa những mô hình chăn nuôi hiệu quả, an toàn sinh học, ứng dụng công nghệ mới, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân.
Hội tích cực vận động các cơ sở chăn nuôi xây dựng mô hình đạt chứng nhận VietGAP, sản phẩm OCOP, mô hình chăn nuôi thân thiện môi trường.
Nhiều hội viên mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ, từng bước nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm môi trường và nâng cao thu nhập.
Đặc biệt, mô hình chăn nuôi tuần hoàn đã giúp nhiều hộ tận dụng chất thải để sản xuất phân hữu cơ, giảm chi phí đầu vào và góp phần xây dựng nền nông nghiệp xanh.
Tóm lại, tối ưu hóa việc sử dụng các chất thay thế và kiểm soát kháng sinh có hệ thống là lộ trình tất yếu để xây dựng một ngành chăn nuôi tỉnh Đồng Tháp an toàn, bền vững.
Hành động này không chỉ bảo vệ sức khỏe hệ sinh thái Một sức khỏe (One Health) mà còn đóng vai trò quyết định trong việc giảm tồn dư thuốc kháng sinh, ngăn chặn ô nhiễm môi trường và bảo vệ toàn diện sức khỏe con người và vật nuôi.











