Sự lung lay đến tận gốc rễ của những luận điệu xuyên tạc lịch sử dân tộc: Bài cuối - 'Dòng sông chân lý luôn bắt nguồn từ Việt Nam'
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam là cuộc đấu tranh tiêu biểu cho tinh thần 'chính nghĩa thắng phi nghĩa, văn minh chống bạo tàn'. Vì thế, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của nhiều nước, nhiều lực lượng tiến bộ trên thế giới. Sự ủng hộ ấy cũng chính là ủng hộ cho 'những người chiến đấu bảo vệ những giá trị nhân văn của loài người, bảo vệ những tư tưởng tiến bộ của thời đại' và đủ sức đập tan mọi luận điệu xuyên tạc về cái gọi là 'nội chiến' hay chiến tranh 'ý thức hệ' mà các thế lực phản động vẫn ra sức rêu rao.

Bảo tàng Chứng tích chiến tranh tại TP Hồ Chí Minh
Đứng về lẽ phải và chính nghĩa
Đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, cho nên, nó là kẻ thù của Nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Song, phía sau hành động quân sự của Mỹ là những âm mưu thâm độc nhằm ngăn cản sự trỗi dậy của “làn sóng đỏ” hay chủ nghĩa xã hội ở khu vực Đông Nam Á và nhiều khu vực trên thế giới. Do đó, đây cũng là kẻ thù chung của Nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên toàn thế giới. Cho nên, việc Nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam là sự khẳng định một chân lý thời đại: Loài người tiến bộ sẽ luôn luôn đứng về lẽ phải và chính nghĩa để lên án, đấu tranh với mọi cái ác, mọi sự bất công.
Quá trình lãnh đạo sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao “tự lực cánh sinh là cái gốc, điểm mấu chốt về chính trị, quân sự, kinh tế, nội chính, ngoại giao của ta”. Nhưng độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, không phải là biệt lập với thế giới bên ngoài; mà ngược lại, Đảng ta luôn chủ trương mở rộng đoàn kết với các dân tộc, mở rộng hợp tác quốc tế. Từ đó, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp to lớn, giúp Việt Nam đủ sức đương đầu và đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược.
Cuộc chiến tranh chính nghĩa của Nhân dân Việt Nam đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ to lớn của nhiều quốc gia, cùng các lực lượng cách mạng, hòa bình, dân chủ và tiến bộ trên thế giới. Sự ủng hộ quý báu về chính trị, tinh thần và sự giúp đỡ to lớn về vật chất, cố vấn, chuyên gia kỹ thuật, nhất là của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, là một trong những nhân tố quan trọng góp phần vào thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (theo thống kê, tổng khối lượng viện trợ quốc tế cho quân và dân ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ước tính khoảng 2.362.682 tấn, trị giá khoảng 7 tỷ rúp, trong đó phần lớn đến từ Liên Xô và Trung Quốc).
Trong sự ủng hộ, giúp đỡ chí tình chí nghĩa ấy, lịch sử còn ghi lại nhiều câu chuyện vô cùng xúc động. Từ đất nước Cu Ba cách xa chúng ta nửa vòng trái đất, Chủ tịch Phiđen Caxtorô đã có một tuyên bố bất hủ: “Vì Việt Nam, chúng tôi sẵn sàng hiến dâng đến cả dòng máu của mình"! (năm 1966). Đến năm 1973, ông đã sang thăm vùng giải phóng miền Nam Việt Nam tại tỉnh Quảng Trị. Đây là lần đầu tiên và duy nhất một nguyên thủ quốc gia đến miền Nam Việt Nam khi cuộc chiến tranh còn đang tiếp diễn. Sự kiện có ý nghĩa biểu tượng cho nghĩa tình thủy chung son sắt giữa hai dân tộc là sự động viên, cổ vũ tinh thần vô cùng to lớn đối với quân và dân ta ở miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, giành độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc.
Bên cạnh sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, cuộc kháng chiến chống Mỹ của Nhân dân ta còn được các lực lượng tiến bộ, các phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới ủng hộ. Đây là một lực lượng rất đông đảo và rất quan trọng của sức mạnh thời đại, đã tiếp thêm sức mạnh cho Việt Nam hoàn thành sứ mệnh lịch sử “khai thông con đường giải phóng các dân tộc bị áp bức trên hành tinh”.
Để đoàn kết và ủng hộ Việt Nam chống Mỹ, hơn 200 tổ chức, ủy ban, phong trào đoàn kết được lập ra ở hầu hết các nước trên thế giới với nhiều hoạt động tích cực. Hàng triệu người đã ghi tên tình nguyện sang giúp Nhân dân Việt Nam đánh Mỹ; 16 nước có phong trào hiến máu; trên 50 nước có phong trào quyên góp tiền của, vật chất ủng hộ Việt Nam. Tại hầu hết các nước, các tầng lớp Nhân dân yêu chuộng hòa bình tiến hành mít tinh ủng hộ Việt Nam và biểu tình, bãi công phản đối đế quốc Mỹ xâm lược. Tiêu biểu như Thủy Điển, ngay giữa lòng Thủ đô Xtốckhôm đã từng xuất hiện các “chiến khu giải phóng” của thanh niên; và đặc biệt là cuộc diễu hành chống Mỹ được tổ chức tại Xtốckhôm giữa năm 1967, do Thủ tướng Ôlốp Panmơ cùng với Đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dẫn đầu.
Còn nhớ cách đây tròn 1 năm, khi cả nước đang hân hoan trong niềm vui 50 năm thống nhất non sông, thì người bạn tin cậy và yêu chuộng hòa bình Thụy Điển đã dành cho Nhân dân Việt Nam một món quà tinh thần vô giá. Đó là thước phim tài liệu chưa từng công bố về ngày 30/4/1975 – Ngày Chiến thắng của dân tộc Việt Nam và của cả nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới. Ngay khi nghe tin lá cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên Dinh Độc Lập, người dân Thụy Điển đã xuống đường tuần hành và hô vang các khẩu hiệu mừng chiến thắng gửi đến đất nước Việt Nam cách xa họ hàng nghìn cây số.
Đặc biệt, thước phim cũng tái hiện hình ảnh nữ văn sĩ Sara Lidman - người đã góp tiếng nói mạnh mẽ phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của Nhân dân Việt Nam – với bài phát biểu vô cùng xúc động: “Những lời dối trá của truyền thông Mỹ như đám mây mù phủ khắp thế giới. Nó là thứ chất độc khiến bao tình bạn úa tàn trước khi có cơ hội được bung nở. Hàng triệu người mang ý thức mạnh mẽ về quyền và tinh thần đoàn kết sẽ sẵn sàng ủng hộ cho cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam. Chính phủ Mỹ đã oanh tạc thế giới bằng những lời xuyên tạc, vu khống nhằm ngăn chặn sự ủng hộ này. Nhiệm vụ của chúng ta là làm vô hiệu hóa những lời độc địa đó. Những cuộc biểu tình của chúng ta chỉ là những xô nước giữa đại dương đen, chỉ đủ để làm sạch một phần nhỏ. Nhưng dòng sông chân lý luôn bắt nguồn từ Việt Nam. Cuộc đấu tranh giành thắng lợi của Nhân dân Việt Nam cuối cùng đã khiến mọi người bừng tỉnh”.
Những tiếng nói “phản tỉnh”
Lịch sử chiến tranh cho thấy, cái “lực” mạnh nếu lại được kết hợp chặt chẽ với cái “thế” có lợi thì sức mạnh sẽ được tăng lên gấp bội, và ngược lại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ví: “Quả cân chỉ một kilôgam, ở vào thế lợi, thì lực của nó tăng lên nhiều, có sức mạnh làm bổng được một vật nặng hàng trăm kilôgam. Đó là thế thắng lực. Ta đánh Mỹ, lấy ít thắng nhiều được là nhờ cái thế của ta rất lợi. Thế ta thắng đã rõ ràng. Thế địch thua đã rõ ràng”. Và thực tế đã chứng minh cho nhận định của Người, khi dân tộc ta đã chiến thắng đế quốc Mỹ hùng mạnh bằng sức mạnh của cái “lực” là tinh thần yêu nước, là quyết tâm sắt đá không sợ gian khổ hi sinh, là đường lối lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng ta và sự hỗ trợ chí tình chí nghĩa của bạn bè và Nhân dân thế giới.
Để rồi, 51 năm đã đi qua kể từ thời khắc đoàn quân chiến thắng tiến vào giải phóng Sài Gòn, chính thức nói lời cáo chung cho chế độ Ngụy quyền và làm thất bại hoàn toàn mọi âm mưu của đế quốc Mỹ trên đất nước ta, nhiều tiếng nói “phản tỉnh” từ những người bên kia chiến tuyến đã cho thế giới thấy rõ hơn những “mặt tối”, những “sự thật” và cả những sai lầm được giấu phía sau cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ. Đồng thời, tiếp tục khẳng định cái “thế” của Việt Nam trong cuộc chiến: Đó là dân tộc đang chiến đấu cho quyền độc lập, quyền tự quyết, quyền tự do, hạnh phúc, cho phẩm giá con người và đang “khai thông con đường giải phóng các dân tộc bị áp bức trên hành tinh”.
Robert S.Mcnamara, Cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và là “kiến trúc sư trưởng” của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, đã cay đắng thừa nhận: “Chúng tôi - những người từng làm việc trong các chính quyền Kennedy và Johnson - tham gia vào các quyết định về Việt Nam... Nhưng chúng tôi đã sai lầm, sai lầm khủng khiếp”. Trong cuốn “Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam”, một cuốn sách mà bản thân ông ta “định không bao giờ viết ra”, đã đưa ra 11 lý do gây ra “thảm họa” cho Mỹ tại Việt Nam. Trong đó, Robert S.Mcnamara nhấn mạnh đến những nguyên nhân sâu xa mà những bộ óc sáng suốt nhất, thông minh nhất của Nhà Trắng hay Lầu Năm Góc lúc bấy giờ cũng chưa hiểu rõ hoặc cố tình gạt đi khi tiến hành can thiệp vào Việt Nam.
Và 2 trong số 11 lý do đã được vị Cựu Bộ trưởng này đưa ra: “Chúng ta đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc trong việc thúc đẩy một dân tộc (trong trường hợp này là Bắc Việt Nam và Việt cộng) đấu tranh và hy sinh vì lý tưởng và các giá trị của nó, và cho đến nay, chúng ta vẫn tiếp tục đánh giá thấp chủ nghĩa dân tộc ở nhiều nơi trên thế giới”; “Chúng ta đã không nhận ra rằng cả người dân lẫn giới lãnh đạo của chúng ta đều không sáng suốt. Khi an ninh quốc gia không bị đe dọa trực tiếp, việc chúng ta đánh giá những gì là lợi ích tốt nhất cho người dân và đất nước khác cần phải được kiểm nghiệm thông qua thảo luận công khai trên các diễn đàn quốc tế. Chúng ta không có quyền tối cao để định hình mọi dân tộc theo hình mẫu của mình, hoặc theo hình ảnh mà mình chọn”. Từ đó, Robert S.Mcnamara rút ra bài học cho nước Mỹ, rằng “Chắc chắn Việt Nam đã dạy cho chúng ta hiểu được mức độ khó khăn to lớn đến thế nào khi phải tham chiến trong các cuộc chiến tranh giới hạn, để dẫn tới những thương vong cho nước Mỹ trong một thời gian dài”.
Giáo sư sử học, Chuyên gia về các cuộc chiến tranh ở Việt Nam và Chiến tranh lạnh Gregory A. Daddis là tác giả của cuốn “Rút quân - Nhìn lại những năm cuối cùng của Mỹ tại Việt Nam” - tác phẩm được đánh giá là “mang tính đột phá và kể lại một câu chuyện hoàn toàn khác về chiến tranh ở Việt Nam”. Trong đó, tác giả cuốn sách đã bác bỏ những lầm tưởng vốn tồn tại từ lâu về tình hình Việt Nam lúc đó, đồng thời khẳng định: “Hơn 40 năm sau ngày chính quyền Sài Gòn sụp đổ, giờ là lúc những người nghiên cứu về chiến tranh ở Việt Nam, đặc biệt là người Mỹ, xem xét một đề xuất không dễ chịu. Chỉ có người Việt Nam mới có thể giải quyết tại đây những mâu thuẫn chính trị và xã hội sâu sắc. Thuyết "thắng ở chiến lược quân sự, thua vì bất cẩn chính trị" chỉ đơn giản là không đứng vững được nếu như chúng ta soi kỹ hơn. Cuối cùng, điều khả dĩ nhất mà lực lượng quân đội Mỹ đạt được, dù là dưới thời William Westmoreland hay Creighton Abrams, chỉ là một thế cờ quân sự tốn kém đã hết sạch nước đi. Đến năm 1973, những người lính Mỹ cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam không phải với tư cách người chiến thắng, mà như những kẻ lạ mặt xuất hiện trong một cuộc chiến không phải của họ, dù để chiến thắng hay chiến bại”.
Cuốn sách “Chân trần, chí thép” - một câu chuyện của Trung tá Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ James G. Zumwalt, nhưng lại là “cuốn sách đặc biệt về tinh thần và ý chí bảo vệ Tổ quốc” của Nhân dân Việt Nam. Dịch giả Đỗ Hùng trong phần “Lời người dịch: Thấu hiểu kẻ thù”, đã mô tả: James G. Zumwalt sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống nhiều đời binh nghiệp, có nhiều hơn một lý do để tự giam hãm mình trong cuộc chiến của quá khứ, để cho những thù hận trầm tích theo tháng năm. Trong một thời gian dài, chừng 20 năm sau ngày Chiến tranh Việt Nam kết thúc, ông vẫn nhìn về phía Việt Nam, kẻ thù cũ của nước Mỹ và của chính bản thân ông, với một niềm hận thù dai dẳng. Cái chết của người anh trai vì căn bệnh ung thư, hậu quả của phơi nhiễm chất độc Cam, càng khiến ông Zumwalt nung nấu lòng thù hận, với niềm tin xác quyết rằng chính người Việt Nam đã gây ra cho ông bi kịch gia đình ấy”.
Thế nhưng, bắt đầu từ một chuyến đi vào năm 1994, cơ hội hàn gắn đã đến, trước hết là cho bản thân ông. Trước chuyến đi, ông chỉ tin rằng cuộc chiến của người Mỹ là chính nghĩa, nỗi đau mà người Mỹ hứng chịu từ cuộc chiến là duy nhất có ý nghĩa, và người Việt Nam phía bên kia chiến tuyến là kẻ thù tàn bạo, phải chịu trách nhiệm trước cuộc thua của người Mỹ và bi kịch gia đình ông. Nhưng khi tiếp xúc với những con người từng ở bên kia chiến tuyến, mà tới tận lúc bấy giờ ông Zumwalt vẫn chưa nguôi ác cảm, người cựu chiến binh Mỹ dần nhận ra nhiều điều mới mẻ, mà ông gọi là “những sự khai mở tâm hồn và nhận thức”.
Qua những cuộc tiếp xúc từ các tướng lĩnh cấp cao tới những người dân thường, Zumwalt đã vỡ ra điều bất khả tri bấy lâu. Ông chợt nhận thấy rằng, nỗi đau mà chiến tranh gây ra không từ một phía nào, đặc biệt là đối với Việt Nam, khi phạm vi chiến cuộc bao phủ lên toàn bộ đất nước này, thì không chỉ các quân nhân và gia đình của họ, mà mọi người dân đều là nạn nhân của cuộc chiến.
Một thời gian dài sau chiến tranh, những cựu quân nhân như Zumwalt vẫn không hiểu đâu là sức mạnh đã giúp người Việt Nam trong cuộc trường kỳ kháng chiến. Chỉ tới sau chuyến đi “khai mở” ấy, ông mới ngộ ra: “Một vài ý kiến tại Mỹ cho rằng, nếu tiến hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam một cách hợp lý, không có áp lực chính trị, thì người Mỹ đã chiến thắng. Trước khi trở lại Việt Nam vào năm 1994, tôi cũng nghĩ như vậy. Nhưng giờ đây, tôi nghĩ khác. Chuyển biến trong tôi chỉ diễn ra sau khi tôi thấu hiểu được rằng, người Việt Nam có một ý chí sắt đá để có thể chiến đấu đến chừng nào đạt được mục tiêu thống nhất đất nước mới thôi"!
...
Việt Nam là dân tộc yêu chuộng hòa bình, căm ghét chiến tranh. Nhưng khi Tổ quốc lâm nguy, dân tộc ấy sẵn sàng vùng lên chiến đấu, bất kể kẻ thù có hùng mạnh hay tàn bạo đến đâu đi chăng nữa. Dẫu trải qua hàng ngàn cuộc chiến chống ngoại xâm lớn nhỏ, nhưng tinh thần “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/Lấy chí nhân để thay cường bạo” vẫn luôn là tinh thần nhân văn, nhân đạo xuyên suốt, giúp khẳng định và soi tỏ tinh thần chính nghĩa của dân tộc ta. Điều này không những được kế thừa, mà còn được phát huy cao độ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mà nhờ đó, dân tộc nhỏ bé này đã được Nhân dân tiến bộ trên thế giới ủng hộ và ngợi ca là “Dòng sông chân lý luôn bắt nguồn từ Việt Nam”!
Bởi với mỗi người Việt Nam, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã trở thành chân lý bất diệt, thành lời hiệu triệu non sông. “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một! Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!” đã trở thành lẽ sống thiêng liêng nhất. Tất cả đã hòa vào mạch nguồn truyền thống yêu nước ngàn đời và hun đúc nên sức mạnh Việt Nam, đủ sức cuốn phăng mọi luận điệu xuyên tạc, mọi mưu đồ bất chính. Đồng thời, tạo nên bức thành thành vững chãi để giữ nền thái bình muôn thuở và để dựng xây nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng “sánh vai cùng các cường quốc năm châu”.
Khôi Nguyên
(Bài viết sử dụng các tư liệu trong “Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975”)










