Sự phát triển tư duy đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam qua các kỳ Đại hội Đảng
Trong tiến trình phát triển của mỗi quốc gia, mô hình tăng trưởng kinh tế giữ vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định phương thức huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực cho phát triển.

Ảnh nguồn Internet
Đối với Việt Nam, một quốc gia đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, việc lựa chọn và từng bước đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế luôn gắn chặt với sự vận động, phát triển tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Qua 40 năm thực hiện đường lối Đổi mới, tư duy của Đảng về mô hình tăng trưởng kinh tế đã không ngừng được bổ sung, hoàn thiện và phát triển. Từ chỗ tập trung giải phóng lực lượng sản xuất, thoát khỏi cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, đến việc xác lập mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững, mỗi kỳ Đại hội Đảng đều đánh dấu một bước tiến quan trọng trong nhận thức và chỉ đạo thực tiễn. Nghiên cứu sự phát triển tư duy đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế qua các kỳ Đại hội Đảng không chỉ có ý nghĩa lý luận sâu sắc mà còn mang giá trị thực tiễn to lớn, góp phần làm rõ con đường phát triển của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và những thách thức mới của thời đại.
Mô hình tăng trưởng kinh tế là cách thức một nền kinh tế tổ chức huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực như vốn, lao động, tài nguyên, khoa học - công nghệ nhằm tạo ra tăng trưởng GDP trong một giai đoạn nhất định. Xét về bản chất, mô hình tăng trưởng phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và năng lực quản trị của Nhà nước. Thông thường, có thể phân biệt hai mô hình tăng trưởng chủ yếu: mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, dựa nhiều vào mở rộng quy mô các yếu tố đầu vào như vốn, lao động, tài nguyên; mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, dựa chủ yếu vào nâng cao năng suất, hiệu quả sử dụng nguồn lực, tiến bộ khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Ảnh nguồn Internet
Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam là dấu mốc lịch sử mở ra công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước. Trong lĩnh vực kinh tế, Đại hội đã dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, chỉ rõ những sai lầm của cơ chế quản lý kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp kéo dài nhiều năm. Mặc dù chưa sử dụng khái niệm “mô hình tăng trưởng”, nhưng tư duy đổi mới của Đại hội VI thể hiện rõ ở việc: Thừa nhận sự tồn tại khách quan của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần; chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo chủ yếu. Những quyết sách này đã tạo tiền đề quan trọng cho sự chuyển đổi mô hình tăng trưởng, giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất, khơi thông các nguồn lực trong xã hội.
Trong các kỳ Đại hội VII, VIII, IX và X, tư duy phát triển kinh tế của Đảng tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện. Đảng nhấn mạnh nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, coi đây là con đường tất yếu để đưa Việt Nam thoát khỏi tình trạng kém phát triển. Đáng chú ý, bên cạnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế, Đảng ngày càng chú trọng hơn đến yêu cầu gắn tăng trưởng với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế, mô hình tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa vào vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ, tức là vẫn thiên về chiều rộng. Sự hạn chế này trở nên rõ nét hơn khi Việt Nam hội nhập sâu vào kinh tế thế giới, đòi hỏi phải nâng cao sức cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng.
Đại hội XI đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng khi lần đầu tiên chính thức nêu nhiệm vụ đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế. “Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững”[1]. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 xác định rõ yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế, “ coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức”[2]. Tư duy này thể hiện sự trưởng thành trong nhận thức của Đảng, phản ánh quá trình tổng kết thực tiễn phát triển đất nước và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế. Đổi mới mô hình tăng trưởng không còn là vấn đề kỹ thuật kinh tế thuần túy, mà trở thành nhiệm vụ chiến lược, gắn liền với đổi mới thể chế và nâng cao năng lực quản trị quốc gia.
Đại hội XII tiếp tục phát triển tư duy đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng cụ thể và thực chất hơn: “Đổi mới mô hình tăng trưởng, đảm bảo phát triển nhanh, bền vững trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Kết hợp phát triển theo chiều rộng và chiều sâu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước, không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh. Gắn kết hài hòa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân; bảo vệ cải thiện môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo đảm quốc phòng, an ninh”[3]. Như vậy, Đảng nhấn mạnh yêu cầu chú trọng phát triển theo chiều sâu, lấy nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế làm trọng tâm. Đổi mới mô hình tăng trưởng được gắn chặt với nhiệm vụ cơ cấu lại nền kinh tế, tập trung vào các lĩnh vực then chốt như đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước, hệ thống tài chính - ngân hàng và nông nghiệp. Đồng thời, Đảng nhấn mạnh vai trò của khoa học - công nghệ như những động lực quan trọng của tăng trưởng.

Ảnh nguồn Internet
Đại hội XIII đánh dấu bước phát triển mới về chất trong tư duy của Đảng về mô hình tăng trưởng kinh tế. Trên cơ sở đánh giá “Kết quả phát triển kinh tế - xã hội trên nhiều mặt vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và thiếu tính bền vững”[4], Đảng xác định rõ yêu cầu chuyển mạnh nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao: “Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; phát triển nền kinh tế số”[5]. Như vậy, lần đầu tiên, các khái niệm như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn được đặt ở vị trí trung tâm của mô hình tăng trưởng mới. Đảng cũng nhấn mạnh yêu cầu phát triển nhanh nhưng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường sinh thái.
Đại hội XIV của Đảng được đánh giá là dấu mốc quan trọng trong việc xác lập mô hình tăng trưởng mới cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tư duy đổi mới được nâng lên tầm cao mới khi Đảng khẳng định khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và tăng trưởng xanh là các động lực chủ yếu. Định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026 - 2030 nêu rõ: “Xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực. Xác định các động lực tăng trưởng mới và lấy khoa học, công nghệ là trọng tâm để thúc đẩy, làm mới các động lực truyền thống. Hình thành các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế trọng điểm, các đặc khu kinh tế thế hệ mới ngang tầm khu vực và toàn cầu”[6]. Tư duy này cho thấy, đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với nhiều vấn đề cần tập trung giải quyết trong điều kiện sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay; chú trọng đến chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng. Đặc biệt, Đại hội XIV tiếp tục thể hiện rõ bước đột phá trong nhận thức về vai trò của kinh tế tư nhân, coi đây là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Điều này thể hiện sự vận dụng sáng tạo lý luận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới hiện nay. Tư duy này cho thấy, đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với nhiều vấn đề cần tập trung giải quyết trong điều kiện sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 và hội nhập qước tế sâu rộng hiện nay; chú trọng đến chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng. Đặc biệt, Đại hội XIV tiếp tục thể hiện rõ bước đột phá trong nhận thức về vai trò của kinh tế tư nhân, coi đây là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Điều này thể hiện sự vận dụng sáng tạo lý luận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới hiện nay.
Nhìn một cách tổng thể, tư duy của Đảng về đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế đã phát triển theo một quá trình liên tục, có kế thừa và đổi mới sáng tạo. Từ giải phóng lực lượng sản xuất đến nâng cao chất lượng tăng trưởng; từ tăng trưởng dựa vào nguồn lực truyền thống sang tăng trưởng dựa vào tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo; từ mục tiêu tăng trưởng đơn thuần sang phát triển nhanh, bền vững và bao trùm. Sự phát triển tư duy này phản ánh bản lĩnh chính trị, trí tuệ và khả năng tự đổi mới của Đảng trước những biến động to lớn của tình hình trong nước và thế giới.
Tóm lại, qua các kỳ Đại hội XI, XII, XIII và XIV, chủ trương đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế của Đảng thể hiện sự phát triển liên tục và ngày càng hoàn thiện về tư duy: từ chỗ đặt vấn đề chuyển đổi mô hình tăng trưởng nhằm khắc phục tăng trưởng theo chiều rộng, hiệu quả thấp (Đại hội XI), đến cụ thể hóa bằng tái cơ cấu nền kinh tế và nâng cao hiệu quả, năng suất (Đại hội XII), rồi nâng tầm chiến lược với trọng tâm dựa vào khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và phát triển bền vững (Đại hội XIII). Trên cơ sở đó, tinh thần Đại hội XIV tiếp tục kế thừa và phát triển, hướng tới xây dựng mô hình phát triển hiện đại, tự chủ, bền vững, lấy con người làm trung tâm, đổi mới sáng tạo làm động lực và chất lượng tăng trưởng làm thước đo chủ yếu cho sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Sự phát triển tư duy đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế qua các Đại hội Đảng là một minh chứng sinh động cho quá trình vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, việc tiếp tục quán triệt và triển khai hiệu quả mô hình tăng trưởng mới theo tinh thần Đại hội XIV có ý nghĩa quyết định. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực đồng bộ của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội, nhằm biến tư duy đổi mới của Đảng thành sức mạnh vật chất to lớn trong thực tiễn phát triển đất nước.
[1] Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, trang 191
[2] Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, trang 98
[3] Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, trang 280-281
[4] Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, trang 85
[5] Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, trang 104
[6] Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, trang 90-91











