Sửa đổi, bổ sung Luật Điện lực: Tháo 'điểm nghẽn' từ quy hoạch đến đầu tư

Khi quy hoạch mở rộng, hành lang pháp lý phải đi trước một bước

Luật Điện lực số 61/2024/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 30/11/2024 và có hiệu lực từ ngày 1/2/2025, tạo nền tảng pháp lý mới cho phát triển ngành điện trong giai đoạn chuyển dịch năng lượng.

Tuy nhiên, chỉ ít tháng sau khi luật có hiệu lực, yêu cầu phát triển hệ thống điện tiếp tục thay đổi để đáp ứng nhu cầu điện cho tăng trưởng kinh tế, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 768/QĐ-TTg phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII điều chỉnh). Quy hoạch đặt ra yêu cầu phát triển nguồn và lưới điện với quy mô lớn, đồng thời thúc đẩy năng lượng tái tạo, năng lượng mới, nguồn điện linh hoạt và các giải pháp bảo đảm vận hành hệ thống trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nguồn điện.

Những yêu cầu đó tiếp tục được đặt trong bối cảnh Nghị quyết 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 định hướng phát triển thị trường năng lượng đồng bộ, minh bạch, cạnh tranh và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển năng lượng.

Như vậy, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là có một quy hoạch với danh mục và quy mô nguồn điện cụ thể, mà quan trọng hơn là phải có một hành lang pháp lý đủ rõ để những mục tiêu đó có thể chuyển thành dự án, được quyết định đầu tư, huy động vốn và đưa vào vận hành. Đây chính là điểm nghẽn mà quá trình hoàn thiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực cần hướng tới.

Vấn đề vì thế không còn chỉ là nguồn điện nào cần được phát triển, mà là làm thế nào để những nguồn điện đã được xác định trong quy hoạch có thể trở thành dự án đầu tư thực tế.

Với LNG, đó là bài toán về giá nhiên liệu, khả năng huy động công suất và sản lượng, giá điện, thời hạn đồng mua bán điện (PPA) và cơ chế phân bổ rủi ro trong suốt vòng đời dự án. Nếu các yếu tố này chưa đủ rõ, dự án có thể chưa thể đi đến quyết định đầu tư cuối cùng (FID), đồng nghĩa với việc chưa thể huy động nguồn vốn lớn cần thiết để triển khai.

Với điện gió ngoài khơi, bài toán còn phức tạp hơn khi liên quan đồng thời đến khảo sát tài nguyên biển, không gian biển, môi trường, quốc phòng - an ninh, lựa chọn nhà đầu tư, đấu nối và hợp đồng mua bán điện dài hạn.

Do đó, yêu cầu đặt ra đối với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực không chỉ là “cho phép phát triển”, mà phải tạo hành lang pháp lý đủ rõ để nhà đầu tư có thể quyết định bỏ vốn, ngân hàng có cơ sở thẩm định, cho vay và hệ thống điện có khả năng tiếp nhận nguồn điện mới. Việc sửa đổi Luật vì thế cần được nhìn nhận là bước tiếp theo trong quá trình hoàn thiện thể chế để hiện thực hóa quy hoạch, thay vì coi đây là việc sửa một đạo luật vừa có hiệu lực.

Gỡ điểm nghẽn từ quy hoạch đến quyết định đầu tư

Một vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với tính khả thi và khả năng huy động vốn của dự án là giá và cơ chế hợp đồng mua bán điện.

Với các dự án nguồn điện có vốn đầu tư lớn như LNG, điện gió ngoài khơi hay các dự án điện có thời gian thu hồi vốn dài, nhà đầu tư và tổ chức tín dụng không chỉ quan tâm mức giá điện, mà quan tâm khả năng tạo dòng tiền ổn định trong suốt vòng đời dự án.

Theo hướng sửa đổi, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực quy định giá điện trong PPA phải bảo đảm thu hồi các chi phí đầu tư, tài chính, vận hành, nhiên liệu và các chi phí hợp lý khác, đồng thời bảo đảm mức lợi nhuận hợp lý. Mức lợi nhuận này được xem xét trên cơ sở rủi ro dự án, cơ cấu vốn, thời gian đầu tư, chi phí vốn và đặc thù của từng loại hình nguồn điện.

Điểm đáng chú ý là dự thảo Luật đồng thời đặt ra cơ chế sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn và thời gian áp dụng, cùng các cơ chế giá, thanh toán phù hợp với từng loại nguồn. Đây là những yếu tố có thể tác động trực tiếp đến tính “bankable” của dự án, tức khả năng đáp ứng các điều kiện để huy động nguồn vốn tín dụng.

Với LNG, vấn đề này càng rõ. Đặc thù chi phí nhiên liệu cao và biến động khiến dự án cần một cơ chế PPA đủ rõ về sản lượng, giá và phương thức thanh toán để nhà đầu tư có thể tính toán dòng tiền, trong khi bên cho vay có cơ sở đánh giá khả năng trả nợ.

TS Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam: Để các dự án LNG có thể triển khai, cơ chế PPA cần đủ rõ về sản lượng điện cam kết, thời hạn hợp đồng và khả năng huy động công suất.

TS Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam: Để các dự án LNG có thể triển khai, cơ chế PPA cần đủ rõ về sản lượng điện cam kết, thời hạn hợp đồng và khả năng huy động công suất.

Liên quan đến vấn đề này, TS Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam, cho rằng để các dự án LNG có thể triển khai, cơ chế PPA cần đủ rõ về sản lượng điện cam kết, thời hạn hợp đồng và khả năng huy động công suất. Đây là những yếu tố quan trọng để nhà đầu tư có cơ sở quyết định đầu tư và tổ chức tín dụng đánh giá khả năng thu hồi vốn.

Đối với điện gió ngoài khơi, ông đề xuất nghiên cứu cơ chế đặc thù cho các dự án tiên phong, trong đó có thể rút ngắn thời gian chuẩn bị đầu tư thông qua việc cho phép thực hiện đồng thời một số bước khảo sát, nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi. Đồng thời, cần làm rõ cơ chế sử dụng, chia sẻ hạ tầng và vai trò của các doanh nghiệp nhà nước có liên quan.

Trên nền tảng các quy định về điện gió ngoài khơi đã được Luật Điện lực số 61/2024/QH15 thiết lập, dự thảo Luật sửa đổi tiếp tục hoàn thiện cơ chế theo hướng tạo điều kiện triển khai khảo sát, chuẩn bị đầu tư và lựa chọn nhà đầu tư. Cùng với đó, dự thảo Luật đặt ra yêu cầu có cơ chế, chính sách đột phá phát triển điện gió ngoài khơi; hoàn thiện cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đối với nguồn điện tái tạo, năng lượng mới và hệ thống lưu trữ.

Những nội dung này cho thấy trọng tâm của dự thảo Luật đang chuyển từ các nguyên tắc chung sang những điều kiện cụ thể quyết định khả năng triển khai dự án: thủ tục, giá điện, PPA, phân bổ rủi ro, huy động vốn và khả năng tích hợp nguồn điện vào hệ thống.

Thước đo cuối cùng của việc sửa đổi, bổ sung Luật vì thế không chỉ nằm ở việc bổ sung bao nhiêu quy định, mà ở khả năng rút ngắn khoảng cách từ quy hoạch đến dự án, từ dự án đến FID, từ FID đến nguồn vốn và từ nguồn vốn đến MW điện thực tế.

Quy hoạch điện VIII điều chỉnh xác định những nguồn điện cần phát triển và quy mô của hệ thống trong từng giai đoạn. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực phải giải quyết những điều kiện để các dự án đó có thể được đầu tư, ký kết hợp đồng, huy động vốn, đấu nối và đưa vào vận hành. Khi những điểm nghẽn này được xử lý, các mục tiêu của quy hoạch mới có thể chuyển thành dự án cụ thể, công suất cụ thể và nguồn điện thực tế để bảo đảm an ninh năng lượng, phục vụ tăng trưởng của nền kinh tế.

Huy Tùng

Nguồn PetroTimes: https://petrovietnam.petrotimes.vn/sua-doi-bo-sung-luat-dien-luc-thao-diem-nghen-tu-quy-hoach-den-dau-tu-745397.html