Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư: Ưu đãi đầu tư phải gắn với kết quả cam kết

Sáng 24/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai , Quốc hội đã tiến hành thảo luận tại Tổ về dự án sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư.

Phát biểu tại các phiên thảo luận, các Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) đánh giá cao nỗ lực của cơ quan soạn thảo trong việc thể chế hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng nhằm thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao, phát triển các ngành công nghiệp chiến lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu lớn và các trung tâm đổi mới sáng tạo.

Để tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Luật, nhiều ý kiến tâm huyết, thẳng thắn đã được đưa ra, nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý, khơi thông nguồn lực phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường và chủ quyền quốc gia.

Ưu đãi đầu tư phải gắn với kết quả cam kết

Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hưng Yên phát biểu

Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hưng Yên phát biểu

Góp ý về Dự thảo Luật tại Tổ 6, Tổng Kiểm toán Nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa (Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên) nhấn mạnh yêu cầu Luật Đầu tư phải đảm bảo nguyên tắc đối xử bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Vì vậy, Cơ quan soạn thảo cần rà soát kỹ lưỡng các chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế nhà nước, cụ thể là doanh nghiệp nhà nước và phát triển kinh tế tư nhân, cụ thể là các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân để thể chế hóa đầy đủ trong Dự thảo Luật này.

Góp ý về Điều 14, ông đề xuất bổ sung 4 trọng tâm cần Nhà nước hỗ trợ: khâu thử nghiệm thương mại hóa kết quả nghiên cứu của các doanh nghiệp; hỗ trợ xây dựng thương hiệu và đăng ký sở hữu trí tuệ; hỗ trợ về tiếp cận và phát triển thị trường cho các dự án đầu tư và các doanh nghiệp; hỗ trợ chuyển giao kỹ năng và công nghệ của các dự án công nghệ cao của nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Cũng theo Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa, cần thống nhất quan điểm chung là việc hỗ trợ ưu đãi đầu tư phải có điều kiện, có thời hạn; đặc biệt cần quán triệt các chủ trương, Nghị quyết của Bộ Chính trị đó là ưu đãi, hỗ trợ phải dựa trên cơ sở kết quả thực hiện các cam kết. “Đây là điểm rất mới và rất quan trọng để đánh giá được việc thụ hưởng các chính sách hỗ trợ ưu đãi của Nhà nước trong và sau quá trình thực hiện, phải thực sự đem lại hiệu quả đối với phát triển kinh tế - xã hội” – Tổng Kiểm toán nhà nước nhấn mạnh.

Với quan điểm đó, Tổng Kiểm toán nhà nước chỉ rõ, Điều 17 Dự thảo quy định rất rõ về nguyên tắc áp dụng ưu đãi đầu tư, hỗ trợ đầu tư đặc biệt, chỉ áp dụng cho một số nhóm các dự án nằm trong nhóm thuộc diện ưu đãi đặc biệt. Tuy nhiên, quy định về ưu đãi đầu tư, hỗ trợ đầu tư ở Điều 14 mang chất phổ quát đối với cả các cái ngành các lĩnh vực đủ điều kiện không thuộc diện đặc biệt thì không thể hiện rõ quan điểm ưu đãi, hỗ trợ đầu tư dựa trên cơ sở kết quả thực hiện các cam kết, có thời hạn cũng như các điều kiện kèm theo. Do đó, Tổng Kiểm toán nhà nước đề nghị cần bổ sung làm rõ các nguyên tắc về hỗ trợ và ưu đãi đầu tư tại Điều 14 Dự thảo Luật.

Về công tác giám sát (Điều 44), theo Tổng Kiểm toán nhà nước cần đánh giá chặt chẽ ngay trong quá trình triển khai thay vì đợi dự án hoàn thành. Cơ quan chức năng phải kiên quyết dừng hỗ trợ và có cơ chế thu hồi ưu đãi nếu nhà đầu tư vi phạm tiến độ hoặc không đạt sản phẩm cam kết, tránh lãng phí nguồn lực nhà nước. Đồng thời, dự thảo luật cần bổ sung khung thời hạn tối đa mà dự án đầu tư được hưởng ưu đãi, cũng như quy định rõ nguyên tắc, trình tự, thủ tục và thẩm quyền thu hồi (thu hồi một phần hay toàn bộ) các khoản hỗ trợ, ưu đãi khi nhà đầu tư vi phạm cam kết.

Tháo gỡ rào cản thủ tục, bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư

Toàn cảnh thảo luận tại Tổ 9 - Nguồn: Quốc hội

Toàn cảnh thảo luận tại Tổ 9 - Nguồn: Quốc hội

Đồng quan điểm, phát biểu tại Tổ 9 Đại biểu Lê Văn Thế ( Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình) đề nghị chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng (Điều 17) phải căn cứ vào kết quả nâng cao năng lực thực tế có thể kiểm chứng, không chỉ dựa trên tỷ lệ số lượng. Về số hóa dữ liệu (Điều 46), ông kiến nghị quy định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý phải chủ động đối chiếu và hiệu đính khi dữ liệu điện tử sai lệch so với giấy chứng nhận gốc đang có hiệu lực. Lỗi chậm cập nhật hoặc sai lệch dữ liệu từ phía cơ quan nhà nước không được trở thành lý do gây bất lợi cho nhà đầu tư.

Phát biểu tại Tổ 3, đại biểu Bùi Xuân Hải (Đoàn ĐBQH TP. Hải Phòng) ủng hộ đề xuất giao Chính phủ quyết định nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài khi đáp ứng những điều kiện nhất định. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị rà soát khoản 3 Điều 11, sử dụng cụm từ "các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và của Ủy ban Thường vụ Quốc hội" thay cho việc liệt kê từng loại văn bản, bảo đảm tính bao quát và phù hợp với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Cho ý kiến về chấm dứt hợp đồng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 36, đại biểu Trần Thị Hiền (Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình) cho biết, dự thảo Luật quy định: Cơ quan đăng ký đầu tư chấm dứt hoạt động dự án sau 24 tháng kể từ thời điểm kết thúc tiến độ thực hiện mục tiêu mà nhà đầu tư vẫn không hoàn thành và không thuộc trường hợp được điều chỉnh tiến độ.

Đại biểu Trần Thị Hiền – Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình phát biểu - Nguồn: Quốc hội

Đại biểu Trần Thị Hiền – Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình phát biểu - Nguồn: Quốc hội

Đại biểu cho biết, thực tế triển khai cho thấy, nhiều dự án bị chậm tiến độ xuất phát từ nguyên nhân khách quan từ phía cơ quan nhà nước (chậm giải phóng mặt bằng, bàn giao đất, điều chỉnh quy hoạch chung...). Việc áp dụng mốc 24 tháng mang tính cứng nhắc mà thiếu quy tắc rõ ràng về phân định trách nhiệm chậm trễ từ phía chính quyền sẽ gây rủi ro pháp lý, dễ phát sinh tranh chấp hành chính hoặc khiếu kiện quốc tế, thiệt hại quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư tuân thủ.

Do vậy, đại biểu đề nghị sửa đổi bổ sung điểm b khoản 2 Điều 36 về chấm dứt hoạt động dự án theo hướng: Chấm dứt dự án sau 24 tháng kể từ thời điểm kết thúc tiến độ mục tiêu mà không hoàn thành. Trường hợp dự án chậm tiến độ do nguyên nhân chậm trễ từ phía cơ quan Nhà nước trong giải phóng mặt bằng, bàn giao đất hoặc thủ tục hành chính liên quan thì thời gian này không tính vào thời hạn 24 tháng xem xét chấm dứt."

Về chấp thuận chủ trương đầu tư dự án nhà ở, khu đô thị đã có quyền sử dụng đất (khoản 11 Điều 24), dự thảo Luật quy định: Bắt buộc mọi dự án đầu tư xây dựng nhà ở, khu đô thị phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, kể cả trường hợp nhà đầu tư đã có quyền sử dụng đất hợp pháp hoặc thông qua thỏa thuận. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy quy định này chưa đồng bộ với tinh thần cải cách hành chính và tháo gỡ vướng mắc cho thị trường bất động sản. Việc buộc các dự án đã có sẵn đất sạch hoặc quyền sử dụng đất hợp pháp phải đi qua thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư từ đầu làm tăng chi phí tuân thủ, kéo dài thời gian triển khai, tạo sự chồng chéo với trình tự giao đất/chuyển mục đích sử dụng đất theo Luật Đất đai và Luật Nhà ở.

Do đó, đại biểu Trần Thị Hiền đề nghị sửa đổi theo hướng: Cắt giảm thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư đối với dự án nhà ở thương mại, khu đô thị quy mô nhỏ/vừa mà nhà đầu tư đã có quyền sử dụng đất hợp pháp phù hợp với quy hoạch đã phê duyệt. Giảm chi phí tuân thủ, cắt giảm thủ tục trung gian chồng chéo với Luật Đất đai và Luật Nhà ở.

Nam Sơn

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/sua-doi-bo-sung-mot-so-dieu-cua-luat-dau-tu-uu-dai-dau-tu-phai-gan-voi-ket-qua-cam-ket