Sửa Luật Dầu khí: Cần hoàn thiện cơ chế để đánh thức tiềm năng CCS ngoài khơi

Theo TS Dư Văn Toán, dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) đã có bước tiến quan trọng khi lần đầu tiên dành một chương riêng quy định về hoạt động thu giữ và lưu trữ carbon (CCS). Tuy nhiên, để công nghệ này thực sự đi vào cuộc sống và hình thành các dự án thương mại, cần tiếp tục hoàn thiện nhiều quy định về quyền khai thác, cơ chế đầu tư, quản lý rủi ro cũng như kết nối với thị trường carbon.

Hoàn thiện khung pháp lý để CCS trở thành ngành công nghiệp mới

Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) đã nói rõ về hoạt động CCS trong lĩnh vực dầu khí. Theo đó, Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nghiên cứu, đầu tư các dự án CCS; khuyến khích tận dụng dữ liệu điều tra dầu khí, hạ tầng và các công trình của những mỏ dầu khí hiện hữu để phục vụ lưu trữ CO₂.

Dự thảo cũng quy định tương đối đầy đủ trình tự triển khai dự án CCS, từ đánh giá địa chất, lập kế hoạch phát triển, xây dựng hạ tầng, vận hành, giám sát cho đến đóng công trình và bàn giao. Đồng thời, nhà thầu được phép tích hợp hoạt động CCS vào hợp đồng dầu khí hiện hữu, được thu hồi chi phí đầu tư, sở hữu và giao dịch tín chỉ carbon theo quy định của pháp luật.

TS Dư Văn Toán, Viện Khoa học Khí tượng Thủy Văn, Môi trường và Biển (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

TS Dư Văn Toán, Viện Khoa học Khí tượng Thủy Văn, Môi trường và Biển (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Theo TS Dư Văn Toán, việc lần đầu tiên đưa CCS vào Luật Dầu khí là bước tiến rất quan trọng, tạo nền tảng pháp lý ban đầu cho một lĩnh vực hoàn toàn mới tại Việt Nam. Tuy nhiên, các quy định hiện nay vẫn chủ yếu mang tính nguyên tắc, trong khi triển khai thực tế sẽ phát sinh nhiều vấn đề cần được luật hóa hoặc giao Chính phủ hướng dẫn chi tiết.

Ông cho rằng cần làm rõ quyền sử dụng các thành tạo địa chất để lưu trữ CO₂; tiêu chuẩn lựa chọn, thẩm định và cấp phép địa điểm lưu trữ. Đồng thời, cần quy định rõ quyền sở hữu, trách nhiệm pháp lý đối với lượng CO₂ sau khi bơm ép xuống lòng đất. Bên cạnh đó là quy định về giám sát trong và sau khi đóng cơ sở lưu trữ, thời điểm chuyển giao trách nhiệm dài hạn từ doanh nghiệp sang Nhà nước, cơ chế xử lý rủi ro, nghĩa vụ tài chính,...

Một nội dung khác cũng cần được nghiên cứu là khả năng nhập khẩu CO₂ để lưu trữ trong tương lai, khi Việt Nam có thể trở thành trung tâm lưu trữ carbon của khu vực nếu tận dụng hiệu quả các bể chứa địa chất ngoài khơi. Đồng thời, cần làm rõ mối quan hệ giữa hoạt động CCS với bơm ép tăng cường thu hồi dầu (EOR), cũng như nghĩa vụ thu dọn công trình sau khi kết thúc dự án.

Theo TS Dư Văn Toán, nếu Luật Dầu khí chỉ quy định CCS ở mức nguyên tắc mà chưa giải quyết được các vấn đề về trách nhiệm dài hạn, mô hình doanh thu và phân bổ rủi ro thì rất khó hình thành các dự án thương mại có quy mô lớn.

Bên cạnh đó, cơ chế ưu đãi đầu tư cũng cần được thiết kế phù hợp bởi CCS là lĩnh vực có suất đầu tư rất lớn, thời gian hoàn vốn dài và lợi nhuận ban đầu không cao. Các chính sách về thuế, tiền thuê khu vực biển, tiền thuê đáy biển, không gian biển, ưu đãi tín dụng hay chia sẻ rủi ro sẽ góp phần tạo động lực để doanh nghiệp tham gia đầu tư.

Theo chuyên gia, việc xây dựng cơ chế ưu đãi cho CCS cũng cần đặt trong mối liên hệ với sự hình thành thị trường carbon tại Việt Nam. Khi hệ thống trao đổi hạn ngạch phát thải và sàn giao dịch carbon vận hành ổn định, lượng CO₂ được thu giữ và lưu trữ sẽ không chỉ giúp doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu giảm phát thải mà còn tạo thêm nguồn thu thông qua tín chỉ carbon. Đây sẽ là yếu tố quan trọng giúp cải thiện hiệu quả tài chính của các dự án CCS.

Phát huy lợi thế của Petrovietnam để hình thành ngành công nghiệp CCS ngoài khơi

Theo TS Dư Văn Toán, Việt Nam sở hữu lợi thế đặc biệt mà không nhiều quốc gia trong khu vực có được, đó là hệ thống các mỏ dầu khí đang suy giảm hoặc đã kết thúc khai thác ngoài khơi. Sau nhiều năm khai thác, các cấu tạo địa chất này đã được nghiên cứu kỹ lưỡng, có đầy đủ dữ liệu địa chất, địa vật lý và hoàn toàn có thể xem xét chuyển đổi thành các bể lưu trữ CO₂ quy mô lớn.

TS Dư Văn Toán cho rằng Petrovietnam sở hữu lợi thế vượt trội về hạ tầng ngoài khơi và đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm, tạo nền tảng quan trọng để phát triển các dự án CCS - Ảnh minh họa

TS Dư Văn Toán cho rằng Petrovietnam sở hữu lợi thế vượt trội về hạ tầng ngoài khơi và đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm, tạo nền tảng quan trọng để phát triển các dự án CCS - Ảnh minh họa

Việc tận dụng các mỏ dầu khí cũ sẽ giúp giảm đáng kể chi phí đầu tư ban đầu so với xây dựng hoàn toàn mới, đồng thời khai thác hiệu quả hệ thống giếng khoan, đường ống, công trình biển và các cơ sở hạ tầng hiện hữu.

Theo ông, quá trình phát triển CCS nên được triển khai theo lộ trình từng bước. Trước mắt, cần thực hiện các dự án thí điểm tại một số mỏ dầu khí suy giảm để đánh giá đầy đủ hiệu quả kỹ thuật, kinh tế và môi trường trước khi mở rộng trên quy mô thương mại.

Cùng với đó, Việt Nam cần nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về vận hành thị trường tín chỉ carbon, cơ chế chứng nhận lượng CO₂ được lưu giữ cũng như phương thức ghi nhận tín chỉ carbon từ các dự án CCS. Đây sẽ là cơ sở để các dự án trong nước kết nối với thị trường carbon quốc tế, nâng cao hiệu quả đầu tư và thu hút các đối tác chiến lược nước ngoài.

Đánh giá về vai trò của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) trong lĩnh vực này, TS Dư Văn Toán cho rằng, Tập đoàn đang sở hữu nhiều lợi thế mà rất ít doanh nghiệp có được. Không chỉ có hệ thống hạ tầng dầu khí ngoài khơi quy mô lớn, Petrovietnam còn tích lũy nhiều thập niên kinh nghiệm trong khảo sát địa chất, khoan, khai thác, vận chuyển khí và quản lý các công trình biển. Đây đều là những năng lực cốt lõi để phát triển các dự án CCS ngoài khơi.

Nếu Luật Dầu khí được sửa đổi theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh, bổ sung cơ chế ưu đãi đầu tư, khuyến khích hợp tác quốc tế, quy định rõ về CCS và cơ chế kết nối với thị trường carbon, Petrovietnam sẽ có điều kiện phát huy tối đa lợi thế sẵn có để trở thành lực lượng tiên phong phát triển ngành công nghiệp lưu trữ carbon ngoài khơi.

Theo TS Dư Văn Toán, việc hoàn thiện Luật Dầu khí lần này không chỉ nhằm bổ sung một công nghệ mới mà còn tạo nền tảng cho sự hình thành một ngành công nghiệp carbon có giá trị gia tăng cao, góp phần thực hiện mục tiêu chuyển dịch năng lượng, nâng cao hiệu quả khai thác hạ tầng dầu khí hiện hữu và tăng năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong xu hướng phát triển kinh tế carbon thấp trên thế giới.

Đình Khương

Nguồn PetroTimes: https://petrovietnam.petrotimes.vn/sua-luat-dau-khi-can-hoan-thien-co-che-de-danh-thuc-tiem-nang-ccs-ngoai-khoi-743371.html