Sửa Luật Dầu khí để phát triển ngành công nghiệp lưu trữ carbon
Việc hoàn thiện Luật Dầu khí (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ là nền tảng để hình thành ngành công nghiệp mới về thu hồi và lưu trữ carbon (CCS), góp phần thúc đẩy chuyển dịch năng lượng.

Giàn khoan khai thác dầu khí của Petrovietnam. Ảnh: Minh Trang/Bnews/vnanet.vn
Việc hoàn thiện Luật Dầu khí (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ là nền tảng để hình thành ngành công nghiệp mới về thu hồi và lưu trữ carbon (CCS), góp phần thúc đẩy chuyển dịch năng lượng. Đây cũng là bước đi quan trọng thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đi vào cuộc sống.

PGS.TS Nguyễn Thế Vinh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Mỏ - Địa chất. Ảnh: Petrovietnam
*Luật hóa CCS để thu hút đầu tư
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thế Vinh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Mỏ - Địa chất, hiện nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa các hoạt động thu giữ, lưu giữ và sử dụng carbon (CCS/CCUS) và phát triển các công nghệ carbon thấp vào khuôn khổ pháp lý nhằm khuyến khích đầu tư và phát huy giá trị của hạ tầng dầu khí hiện có. Trong khi đó, Luật Dầu khí năm 2022 chủ yếu điều chỉnh các hoạt động dầu khí truyền thống nên chưa có quy định cụ thể đối với những lĩnh vực này.“CCUS không chỉ mở ra một lĩnh vực đầu tư mới mà còn là nền tảng công nghệ quan trọng để ngành dầu khí chuyển dịch theo hướng phát triển carbon thấp, phát huy giá trị của hạ tầng hiện có và góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 của Việt Nam”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thế Vinh nhấn mạnh.
Vì vậy, việc luật hóa CCS/CCUS sẽ tạo cơ sở pháp lý để thu hút đầu tư, thúc đẩy nghiên cứu, triển khai các dự án và từng bước hình thành các chuỗi giá trị mới phục vụ mục tiêu chuyển dịch năng lượng.
Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Nguyễn Thế Vinh, Luật Dầu khí (sửa đổi) năm 2026 chỉ nên quy định các nguyên tắc và cơ chế quản lý chung, còn các tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thể nên giao Chính phủ và các bộ, ngành hướng dẫn nhằm bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với sự phát triển nhanh của công nghệ.Cùng quan điểm này, Tiến sĩ Dư Văn Toán, Viện Khoa học Khí tượng Thủy Văn, Môi trường và Biển - Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết Việt Nam sở hữu lợi thế đặc biệt mà không nhiều quốc gia trong khu vực có được, đó là hệ thống các mỏ dầu khí đang suy giảm hoặc đã kết thúc khai thác ngoài khơi.
Sau nhiều năm khai thác, các cấu tạo địa chất này đã được nghiên cứu kỹ lưỡng, có đầy đủ dữ liệu địa chất, địa vật lý và hoàn toàn có thể xem xét chuyển đổi thành các bể lưu trữ CO₂ quy mô lớn. Việc tận dụng các mỏ dầu khí cũ sẽ giúp giảm đáng kể chi phí đầu tư ban đầu so với xây dựng hoàn toàn mới, đồng thời khai thác hiệu quả hệ thống giếng khoan, đường ống, công trình biển và các cơ sở hạ tầng hiện hữu.
Theo ông, quá trình phát triển CCS nên được triển khai theo lộ trình từng bước. Trước mắt, cần thực hiện các dự án thí điểm tại một số mỏ dầu khí suy giảm để đánh giá đầy đủ hiệu quả kỹ thuật, kinh tế và môi trường trước khi mở rộng trên quy mô thương mại.Cũng theo Tiến sĩ Dư Văn Toán, Viện Khoa học Khí tượng Thủy Văn, Môi trường và Biển - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) năm 2026 đã có bước tiến quan trọng khi lần đầu tiên dành một chương riêng quy định về CCS. Tuy nhiên, để công nghệ này thực sự đi vào cuộc sống và hình thành các dự án thương mại, cần tiếp tục hoàn thiện nhiều quy định về quyền khai thác, cơ chế đầu tư, quản lý rủi ro cũng như kết nối với thị trường carbon.Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) đã nêu rõ về hoạt động CCS trong lĩnh vực dầu khí. Theo đó, Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nghiên cứu, đầu tư các dự án CCS; khuyến khích tận dụng dữ liệu điều tra dầu khí, hạ tầng và các công trình của những mỏ dầu khí hiện hữu để phục vụ lưu trữ CO₂.Dự thảo cũng quy định tương đối đầy đủ trình tự triển khai dự án CCS, từ đánh giá địa chất, lập kế hoạch phát triển, xây dựng hạ tầng, vận hành, giám sát cho đến đóng công trình và bàn giao. Đồng thời, nhà thầu được phép tích hợp hoạt động CCS vào hợp đồng dầu khí hiện hữu, được thu hồi chi phí đầu tư, sở hữu và giao dịch tín chỉ carbon theo quy định của pháp luật.Cũng theo TS Dư Văn Toán, nếu Luật Dầu khí chỉ quy định CCS ở mức nguyên tắc mà chưa giải quyết được các vấn đề về trách nhiệm dài hạn, mô hình doanh thu và phân bổ rủi ro thì rất khó hình thành các dự án thương mại có quy mô lớn.Bên cạnh đó, cơ chế ưu đãi đầu tư cũng cần được thiết kế phù hợp bởi CCS là lĩnh vực có suất đầu tư rất lớn, thời gian hoàn vốn dài và lợi nhuận ban đầu không cao. Các chính sách về thuế, tiền thuê khu vực biển, tiền thuê đáy biển, không gian biển, ưu đãi tín dụng hay chia sẻ rủi ro sẽ góp phần tạo động lực để doanh nghiệp tham gia đầu tư.
Ngoài ra, việc xây dựng cơ chế ưu đãi cho CCS cũng cần đặt trong mối liên hệ với sự hình thành thị trường carbon tại Việt Nam. Khi hệ thống trao đổi hạn ngạch phát thải và sàn giao dịch carbon vận hành ổn định, lượng CO₂ được thu giữ và lưu trữ sẽ không chỉ giúp doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu giảm phát thải mà còn tạo thêm nguồn thu thông qua tín chỉ carbon. Đây sẽ là yếu tố quan trọng giúp cải thiện hiệu quả tài chính của các dự án CCS.
* Phát huy vai trò tiên phong của doanh nghiệp nhà nướcPhó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Minh Thống, Trưởng khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Mỏ - Địa chất cho biết CCS là lĩnh vực đòi hỏi trình độ công nghệ, kỹ thuật và nguồn vốn đầu tư trong khi Việt Nam chưa triển khai CCS trên thực tế.
Thực tế cũng cho thấy phần lớn doanh nghiệp tư nhân trong nước hiện chưa đủ tiềm lực để đảm nhận các dự án CCS quy mô lớn do hạn chế về vốn, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Tương tự như vậy, với các nhà đầu tư nước ngoài, nhiều tập đoàn quốc tế đã sở hữu công nghệ và năng lực triển khai CCS vượt trội nhưng việc họ có tham gia đầu tư tại Việt Nam hay không lại phụ thuộc rất lớn vào mức độ hoàn thiện của thể chế và chính sách.
Trong khi đó, Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đã có nhiều năm nghiên cứu, tích lũy kinh nghiệm và sở hữu đội ngũ chuyên môn trong lĩnh vực dầu khí ngoài khơi - nền tảng quan trọng để từng bước triển khai các công nghệ mới. Vì vậy, trong giai đoạn đầu phát triển các dự án CCS, doanh nghiệp nhà nước như Petrovietnam cần đóng vai trò dẫn dắt, tạo nền tảng để hình thành thị trường và phát triển công nghệ.
Theo đó, một môi trường pháp lý rõ ràng, minh bạch và ổn định sẽ không chỉ giúp Petrovietnam phát huy vai trò đầu tàu trong các lĩnh vực năng lượng mới mà còn tạo niềm tin để các doanh nghiệp trong và ngoài nước mạnh dạn đầu tư, chuyển giao công nghệ và hợp tác phát triển các dự án quy mô lớn, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Minh Thống chỉ rõ.

Tiến sỹ Dư Văn Toán (Viện Khoa học Khí tượng Thủy Văn, Môi trường và Biển - Bộ Nông nghiệp và Môi trường). Ảnh: A.N/Bnews/vnanet.vn
Cùng quan điểm này, Tiến sĩ Dư Văn Toán cho rằng, Petrovietnam đang sở hữu nhiều lợi thế mà rất ít doanh nghiệp có được. Không chỉ có hệ thống hạ tầng dầu khí ngoài khơi quy mô lớn, Petrovietnam còn tích lũy nhiều thập niên kinh nghiệm trong khảo sát địa chất, khoan, khai thác, vận chuyển khí và quản lý các công trình biển.
Đây đều là những năng lực cốt lõi để phát triển các dự án CCS ngoài khơi. Vì vậy, nếu Luật Dầu khí năm 2022 được sửa đổi theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh, bổ sung cơ chế ưu đãi đầu tư, khuyến khích hợp tác quốc tế, quy định rõ về CCS và cơ chế kết nối với thị trường carbon, Petrovietnam sẽ có điều kiện phát huy tối đa lợi thế sẵn có để trở thành lực lượng tiên phong phát triển ngành công nghiệp lưu trữ carbon ngoài khơi.
Nhấn mạnh về vai trò của Petrovietnam trong phát triển dự án CCS, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thế Vinh chỉ rõ, trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng, Petrovietnam không chỉ thực hiện các hoạt động dầu khí truyền thống mà cần từng bước phát triển theo mô hình tập đoàn công nghiệp - năng lượng quốc gia, mở rộng sang các lĩnh vực năng lượng mới, trong đó có CCUS và các chuỗi giá trị carbon thấp.
Định hướng này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước cũng như phù hợp với tên gọi và chức năng mới của Tập đoàn, đồng thời tạo điều kiện để Petrovietnam phát huy năng lực, hạ tầng, nguồn nhân lực và kinh nghiệm tích lũy nhằm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Theo kế hoạch, Chính phủ sẽ trình Quốc hội dự án Luật Dầu khí (sửa đổi) vào tháng 7 này. Quốc hội xem xét, thông qua Luật Dầu khí (sửa đổi) tại Kỳ họp không thường lệ Quốc hội khóa XVI dự kiến vào tháng 8 tới.












