Sức ép dài hạn lên dân số
Việt Nam đang ở thời kỳ dân số vàng với gần 70 triệu người trong độ tuổi lao động, tạo lợi thế lớn cho phát triển. Tuy nhiên, kết hôn muộn, mức sinh thấp, mất cân bằng giới tính khi sinh, mang thai ở tuổi vị thành niên và già hóa nhanh đang gây sức ép ngày càng lớn. Những biến động này đòi hỏi chính sách dân số phải chuyển mạnh sang bảo đảm cơ cấu, chất lượng và phát triển bền vững.

Thanh niên diễu hành sau lễ mít tinh kỷ niệm Ngày Dân số thế giới năm 2026 với chủ đề “Chung tay thực hiện khát vọng của thanh niên trong một tương lai tươi sáng”. Ảnh: ĐÀO DOAN
Song, “cửa sổ” dân số vàng không thể kéo dài mãi. Nếu mức sinh tiếp tục giảm, cơ cấu dân số mất cân đối và tốc độ già hóa không được ứng phó, lợi thế hôm nay có thể nhanh chóng trở thành sức ép đối với thị trường lao động và hệ thống an sinh. Một trong những thay đổi đáng lo ngại nhất là người trẻ ngày càng kết hôn muộn, sinh ít con hoặc lựa chọn không sinh con. Tuổi kết hôn trung bình lần đầu của người Việt tăng nhanh: Giai đoạn 1999-2019 chỉ tăng từ 24,1 lên 25,2 tuổi, nhưng đến năm 2024 đã lên 27,3 tuổi.
Kết hôn muộn kéo theo sinh con muộn, rút ngắn thời gian sinh sản và làm giảm số con trong mỗi gia đình. Khi áp lực việc làm, thu nhập, nhà ở và nuôi dạy con ngày càng lớn, mong muốn lập gia đình của nhiều người trẻ cũng khó trở thành hiện thực. Nếu xu hướng này kéo dài, Việt Nam có thể đối mặt với nguy cơ thiếu hụt lao động, suy giảm quy mô dân số và già hóa nhanh hơn dự báo. Đây không còn là câu chuyện riêng của mỗi gia đình, mà liên quan trực tiếp đến duy trì lực lượng sản xuất và bảo đảm an sinh xã hội.
Cùng với mức sinh thấp, mất cân bằng giới tính khi sinh vẫn là vấn đề đáng báo động. Tỷ số hiện ở mức 112,3 bé trai trên 100 bé gái, cao hơn mức cân bằng tự nhiên từ 104 đến 106. Sự chênh lệch kéo dài có thể làm gia tăng số nam giới khó kết hôn, nguy cơ buôn bán phụ nữ và trẻ em gái, bạo lực giới, mất cân đối gia đình và tội phạm xuyên quốc gia. Ở chiều ngược lại, trong khi nhiều người trẻ tại đô thị trì hoãn sinh con, tình trạng mang thai và sinh con ở tuổi vị thành niên tại một số khu vực vẫn cao.
Tỷ lệ phụ nữ từ 20-24 tuổi từng sinh con trước tuổi 18 tăng từ 4,7% năm 2014 lên 8,2% năm 2021. Tại Tây Nguyên, tỷ lệ này tăng từ 9,5% lên 16,6%; khu vực Trung du và miền núi phía Bắc tăng từ 4,6% lên gần 20%. Những con số ấy cho thấy sự chênh lệch trong tiếp cận giáo dục, chăm sóc sức khỏe sinh sản và cơ hội phát triển giữa các vùng.
Hệ quả không dừng ở sức khỏe sinh sản, mà còn kéo dài sang chất lượng nguồn nhân lực và tương lai thế hệ tiếp theo. Song song với đó là tốc độ già hóa dân số ngày càng nhanh. Nếu năm 2024, cứ hai trẻ em mới có một người cao tuổi thì dự báo sau khoảng 50 năm, cứ hai trẻ em sẽ có tới bốn người cao tuổi. Khi lực lượng lao động trẻ thu hẹp, áp lực về lương hưu, bảo hiểm y tế, chăm sóc dài hạn và an sinh xã hội sẽ tăng lên. Bài toán dân số vì thế phải tính đến khả năng thích ứng của hệ thống y tế.
Trước thực trạng đó, Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên cho rằng, trọng tâm chính sách dân số đã chuyển từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Luật Dân số vừa được Quốc hội thông qua tập trung vào bốn nhóm chính sách lớn, trong đó ưu tiên bảo đảm mức sinh thay thế khoảng 2,1 con trên một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Trong khi đó, mức sinh của Việt Nam hiện chỉ còn 1,93 con; tại nhiều địa phương, con số này xuống khoảng 1,3-1,4 con. Nếu không có giải pháp hiệu quả, Việt Nam có thể nhanh chóng chuyển từ “già hóa dân số” sang “dân số già”.
Duy trì mức sinh hợp lý cần đi cùng nỗ lực đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên và chủ động thích ứng với già hóa. Hệ thống chăm sóc người cao tuổi cần được phát triển từ gia đình, cộng đồng đến bệnh viện, khoa lão khoa và trung tâm chuyên nghiệp; đồng thời đào tạo điều dưỡng, phát triển “kinh tế bạc”. Theo Thứ trưởng Đỗ Xuân Tuyên, nâng cao chất lượng dân số là nhiệm vụ xuyên suốt, hướng đến cải thiện thể chất, trí tuệ, kỹ năng. Đây cũng là tinh thần Ngày Dân số thế giới năm 2026: “Chung tay thực hiện khát vọng của thanh niên trong một tương lai tươi sáng”.
Xu hướng kết hôn muộn, sinh ít con không chỉ diễn ra tại Việt Nam. Ông Matt Jackson, Trưởng đại diện Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam cho biết, khảo sát “Tương lai nhân khẩu học” do UNFPA công bố cho thấy người trẻ vẫn mong muốn tìm được bạn đời phù hợp, xây dựng tổ ấm và coi gia đình có hai con là quy mô lý tưởng. Tuy nhiên, các rào cản kinh tế - xã hội khiến nhiều người chưa thể hiện thực hóa mong muốn ấy. Họ chỉ sẵn sàng lập gia đình khi có công việc ổn định, nhà ở hợp lý và đủ điều kiện.
Dịch vụ chăm sóc trẻ em phù hợp vì thế trở thành điều kiện quan trọng đối với quyết định sinh con. Theo ông Matt Jackson, chính sách dân số cần gắn với cơ hội học tập, việc làm, nhà ở và an sinh xã hội; đồng thời mở rộng cơ hội về địa phương, nông thôn. Giải quyết thách thức dân số không thể dừng ở vận động sinh đủ hai con, mà phải tháo gỡ rào cản khiến người trẻ chậm kết hôn, sinh con.
Khi khát vọng của thanh niên được nâng đỡ bằng việc làm ổn định, nhà ở phù hợp, dịch vụ chăm sóc trẻ em và hệ thống an sinh đủ tin cậy, chính sách dân số mới đi vào đời sống, tạo nền tảng để Việt Nam nâng cao chất lượng dân số, phát triển bền vững hơn.
Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/doi-song/suc-ep-dai-han-len-dan-so-252351.html











