Tái cấu trúc chương trình khoa học, công nghệ: Không chỉ là chuyện sắp xếp lại
Một công trình nghiên cứu được nghiệm thu, một bài báo được công bố quốc tế hay một nhiệm vụ khoa học hoàn thành đều là những kết quả đáng ghi nhận. Nhưng khoa học, công nghệ sẽ đóng góp như thế nào cho phát triển kinh tế - xã hội nếu kết quả nghiên cứu chưa được kết nối hiệu quả với phát triển công nghệ, tạo ra sản phẩm và đưa vào thực tiễn?
Đây là một trong những vấn đề đặt ra yêu cầu đổi mới cách tổ chức, quản lý các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia. Đề án tái cấu trúc giai đoạn 2026-2035 được kỳ vọng tạo chuyển biến từ đầu tư phân tán sang tập trung nguồn lực, từ đánh giá nhiệm vụ sang đo lường hiệu quả và tác động.

Nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh. Ảnh: PV
Khi kết quả nghiên cứu chưa trở thành giá trị thực tiễn
Trong hoạt động khoa học, công nghệ, hoàn thành một nhiệm vụ nghiên cứu mới chỉ là một mắt xích của quá trình tạo ra giá trị. Từ kết quả nghiên cứu đến một công nghệ có thể ứng dụng, một sản phẩm có thể sản xuất ở quy mô công nghiệp hay một giải pháp được doanh nghiệp tiếp nhận thường cần thêm nhiều công đoạn: Phát triển, thử nghiệm, hoàn thiện, chuyển giao và thương mại hóa. Nếu các khâu này thiếu sự kết nối, kết quả nghiên cứu dù có giá trị vẫn khó phát huy hết tiềm năng.
Thực tế triển khai các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia trong giai đoạn 2016-2025 phần nào cho thấy vấn đề này. Theo số liệu tổng hợp của Bộ Khoa học và Công nghệ, khoảng 42 chương trình đã triển khai gần 4.800 nhiệm vụ, công bố 6.677 bài báo quốc tế thuộc hệ thống WoS và Scopus, đồng thời đào tạo 1.579 tiến sĩ. Những kết quả đó góp phần quan trọng nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ của đất nước.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, cách tổ chức các chương trình cũng bộc lộ những hạn chế. Nguồn lực còn phân tán, số lượng chương trình và nhiệm vụ tương đối nhiều, trong khi không ít nhiệm vụ có quy mô nhỏ, nội dung hoặc mục tiêu giao thoa. Đáng nói hơn, kết quả nghiên cứu chưa được kết nối hiệu quả với hoạt động phát triển công nghệ, hình thành sản phẩm, ứng dụng và thương mại hóa.

Ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và Công nghệ. Ảnh: PV
Ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết, có 3 điểm nghẽn lớn cần khắc phục: Phân tán nguồn lực; thiếu liên thông giữa nghiên cứu với phát triển công nghệ, sản phẩm; phương thức quản lý còn thiên về quá trình thực hiện, chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả và tác động thực tế của các chương trình.
Nhìn từ những điểm nghẽn này, có thể thấy yêu cầu đặt ra không đơn thuần là giảm số lượng chương trình hay nhiệm vụ. Điều quan trọng hơn là phải tổ chức lại các hoạt động nghiên cứu theo hướng có mục tiêu rõ ràng, hạn chế trùng lặp và tạo được sự tiếp nối giữa các khâu. Nguồn lực đầu tư cần được tập trung cho những nhiệm vụ có trọng tâm, trọng điểm, có khả năng giải quyết các vấn đề lớn và tạo ra kết quả thiết thực.
Đây cũng là lý do Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1951/QĐ-TTg ngày 8-10-2026 phê duyệt Đề án “Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026-2035”.

Điểm cốt lõi của Đề án là thay đổi cách tiếp cận trong quản lý. Thay vì chủ yếu quản lý theo từng nhiệm vụ, quá trình thực hiện và kết quả nghiệm thu, hệ thống chương trình sẽ được định hướng theo chuỗi mục tiêu, sản phẩm, hiệu quả và tác động. Cách tiếp cận này đòi hỏi ngay từ khâu xác định nhiệm vụ phải làm rõ nghiên cứu nhằm giải quyết vấn đề gì, sản phẩm dự kiến là gì và kết quả đó có thể đóng góp như thế nào cho thực tiễn.
Theo đó, hệ thống chương trình được tổ chức thành 6 nhóm: Phát triển tiềm lực; nghiên cứu cơ bản; chương trình trọng điểm quốc gia; đổi mới sáng tạo; chương trình quốc gia đặc biệt và chuyển đổi số quốc gia.
Sáu nhóm này bao quát những mắt xích quan trọng của hoạt động khoa học, công nghệ. Nếu nhóm phát triển tiềm lực chú trọng nguồn nhân lực, tổ chức nghiên cứu, phòng thí nghiệm và hạ tầng dùng chung, nhóm nghiên cứu cơ bản hướng tới tạo lập tri thức mới và nền tảng cho phát triển công nghệ, thì các chương trình trọng điểm quốc gia tập trung giải quyết những bài toán lớn, có tính liên ngành. Trong khi đó, nhóm đổi mới sáng tạo thúc đẩy ứng dụng, chuyển giao công nghệ, phát triển thị trường và thương mại hóa; nhóm chương trình quốc gia đặc biệt tập trung vào công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và sản phẩm chiến lược. Nhóm chuyển đổi số quốc gia hướng tới phát triển chính phủ số, kinh tế số, xã hội số.
Đáng chú ý, 6 nhóm này là khung định hướng để liên kết, điều phối hệ thống, không phải 6 chương trình mới và không tạo thêm cấp quản lý trung gian. Mục tiêu quan trọng là khắc phục sự rời rạc giữa các hoạt động, tạo chuỗi liên thông từ nghiên cứu cơ bản, phát triển công nghệ đến thử nghiệm, hoàn thiện, ứng dụng và thương mại hóa.
Đo hiệu quả bằng những gì khoa học tạo ra
Một thay đổi đáng chú ý khác của Đề án là đưa doanh nghiệp và khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn trở thành những yếu tố quan trọng trong định hướng tổ chức chương trình.

Theo các mục tiêu được xác định tại Quyết định số 1951/QĐ-TTg, đến năm 2030, ít nhất 50% nhiệm vụ đặt hàng có doanh nghiệp chủ trì hoặc phối hợp thực hiện; tỷ lệ này tăng lên 60% vào năm 2035. Tỷ lệ kết quả nghiên cứu được bảo hộ sở hữu trí tuệ hoặc công bố quốc tế phấn đấu đạt 40% vào năm 2030 và 50% vào năm 2035.
Đề án cũng đặt mục tiêu hình thành 30 nhóm nghiên cứu mạnh đạt chuẩn khu vực vào năm 2030 và ít nhất 50 nhóm đạt chuẩn quốc tế vào năm 2035. Đối với sản phẩm, phấn đấu đến năm 2030 hình thành ít nhất 20 sản phẩm trọng điểm, sản phẩm chiến lược; đến năm 2035 có ít nhất 50 sản phẩm được thương mại hóa ở quy mô công nghiệp. Số doanh nghiệp làm chủ công nghệ cũng được đặt mục tiêu đạt ít nhất 20 doanh nghiệp vào năm 2030 và 30 doanh nghiệp vào năm 2035.
Những chỉ tiêu này cho thấy định hướng đầu tư khoa học, công nghệ đang được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ hơn với năng lực làm chủ công nghệ và nhu cầu phát triển của doanh nghiệp. Doanh nghiệp không chỉ tham gia ở khâu tiếp nhận kết quả nghiên cứu mà cần đồng hành từ việc xác định nhu cầu, đặt hàng, phối hợp thực hiện đến ứng dụng và thương mại hóa sản phẩm.
Tuy nhiên, đánh giá hiệu quả không có nghĩa là mọi nghiên cứu đều phải tạo ra sản phẩm thương mại ngay lập tức. Nghiên cứu cơ bản vẫn giữ vai trò tạo lập tri thức mới, cung cấp luận cứ khoa học và nền tảng cho những bước phát triển công nghệ tiếp theo. Vì vậy, điều cần thiết là có phương thức đánh giá phù hợp với mục tiêu, đặc thù của từng nhóm chương trình, đồng thời nhìn nhận đầy đủ cả giá trị khoa học lẫn khả năng tạo ra tác động trong thực tiễn.
Để thực hiện yêu cầu này, Đề án đưa ra phương thức đánh giá theo khung IOOI với bốn cấp độ: Đầu vào, gồm kinh phí, nhân lực và hạ tầng; đầu ra là công nghệ, sáng chế, sản phẩm; hiệu quả thể hiện ở khả năng ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa; tác động được đo bằng những đóng góp đối với năng suất, năng lực cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế. Đáng chú ý, 100% chương trình thuộc phạm vi Đề án sẽ được theo dõi, đánh giá kết quả và hiệu quả trên Nền tảng số quốc gia.

Trong năm 2026, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ rà soát, tổ chức lại 33 chương trình, gồm 25 chương trình thuộc thẩm quyền phê duyệt của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ và 8 chương trình thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ. Trên cơ sở đánh giá sự cần thiết, kết quả, hiệu quả và mức độ trùng lặp, từng chương trình sẽ được xem xét tiếp tục triển khai, điều chỉnh, tích hợp, thay thế hoặc kết thúc. Quá trình này phải bảo đảm xử lý phù hợp các nhiệm vụ, hợp đồng, kinh phí, tài sản và kết quả nghiên cứu đã hình thành, không làm gián đoạn những nhiệm vụ đã được phê duyệt.
Theo lộ trình, năm 2026 tập trung tổ chức lại hệ thống và kiện toàn cơ chế điều phối; quý I-2027 hoàn thiện công cụ, hướng dẫn đánh giá theo khung tiêu chí mới. Giai đoạn 2027-2030 tập trung giải quyết các bài toán lớn, phát triển công nghệ lõi và hình thành sản phẩm; giai đoạn 2031-2035 tiếp tục triển khai, đánh giá tác động và tổng kết Đề án.
Tái cấu trúc chỉ thực sự có ý nghĩa khi sự thay đổi không dừng ở việc sắp xếp lại các chương trình, mà đi vào cách lựa chọn nhiệm vụ, phân bổ nguồn lực và đánh giá kết quả nghiên cứu. Từ những công trình khoa học đến công nghệ, sản phẩm và năng lực làm chủ công nghệ của doanh nghiệp là cả một quá trình cần được tổ chức đồng bộ. Bởi vậy, thước đo cuối cùng của đổi mới quản lý không chỉ là hệ thống chương trình được tinh gọn, mà là khả năng biến nguồn lực đầu tư thành tri thức, công nghệ và những giá trị đóng góp thiết thực cho sự phát triển của đất nước.
