Tái cấu trúc giáo dục nghề nghiệp trong kỷ nguyên số

Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo, công nghệ số và chuyển đổi xanh đang định hình lại thị trường lao động toàn cầu, giáo dục nghề nghiệp (GDNN) không còn dừng lại ở việc đưa công nghệ vào giảng đường.

Quang cảnh Hội thảo.

Quang cảnh Hội thảo.

Yêu cầu cấp thiết hiện nay là tái cấu trúc toàn diện hệ sinh thái đào tạo, lấy dữ liệu làm hạ tầng và đưa doanh nghiệp trở thành đối tác đồng kiến tạo kỹ năng, nhằm bảo đảm việc làm và sinh kế bền vững cho người học.

Những vấn đề này được nhà hoạch định chính sách, đại diện cơ sở giáo dục quốc tế và lãnh đạo tập đoàn công nghệ chia sẻ tại phiên hội thảo chuyên đề “Giáo dục nghề nghiệp trong hệ sinh thái nhân lực số”, diễn ra ngày 9/10, do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức.

Đối tác đồng kiến tạo kỹ năng

Phát biểu tại sự kiện, ông Trần Thanh Đạm, Cục trưởng Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên, Bộ Giáo dục và Đào tạo nhấn mạnh những thách thức to lớn mà thị trường lao động đang phải đối mặt.

Dẫn báo cáo Future of Jobs 2025 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, ông Trần Thanh Đạm cho biết, đến năm 2030, khoảng 22% công việc hiện tại sẽ thay đổi, 170 triệu việc làm mới được tạo ra trong khi 92 triệu việc làm có nguy cơ bị thay thế.

"Thách thức của giáo dục nghề nghiệp trong kỷ nguyên số không chỉ là đưa công nghệ vào nhà trường, mà là làm thế nào để hệ thống đào tạo đáp ứng nhanh chóng sự thay đổi của thị trường lao động, giúp người học chuyển hóa kỹ năng thành việc làm và sinh kế bền vững", ông Trần Thanh Đạm khẳng định.

Theo Cục trưởng Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo duc thường xuyên, chuyển đổi số thế giới đang ghi nhận sự dịch chuyển rõ nét: dữ liệu trở thành hạ tầng mới của hệ thống giáo dục nghề nghiệp. AI phân tích dữ liệu có thể được sử dụng để phân tích nhu cầu kỹ năng, dự báo xu hướng nghề nghiệp và điều chỉnh chương trình đào tạo; AI giúp tăng cường năng lực nhà giáo thay vì thay thế người thầy; đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ các mô hình học tập suốt đời... Đặc biệt, mối quan hệ hợp tác giữa Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp đã bước sang giai đoạn mới: Doanh nghiệp không còn là nơi tiếp nhận sinh viên đơn thuần mà đã trở thành "đối tác đồng kiến tạo kỹ năng,

Nhấn mạnh định hướng của Việt Nam, ông Trần Thanh Đạm chỉ rõ: Việt Nam không sao chép mô hình của các quốc gia khác mà ưu tiên lựa chọn, thiết kế mô hình phù hợp với bối cảnh và hệ thống giáo dục nghề nghiệp trong nước, hướng tới mục tiêu hoàn thiện mô hình quản trị số tại 100% cơ sở GDNN và bồi dưỡng kỹ năng số cơ bản cho tối thiểu 10 triệu lao động đến năm 2030.

Ông Trần Thanh Đạm, Cục trưởng Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên, Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Ông Trần Thanh Đạm, Cục trưởng Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên, Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Cụ thể hóa định hướng thể chế và chính sách, PGS.TS Vũ Thị Tú Anh, Phó Cục trưởng Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên nêu khung pháp lý cho việc doanh nghiệp tham gia đào tạo đã ngày càng rõ ràng, chi tiết thông qua Luật Giáo dục nghề nghiệp 2025, Nghị định 308/2026, Nghị định 95/2025 và các thông tư hướng dẫn năm 2026.

Bà Vũ Thị Tú Anh cho rằng, dù khoảng cách giữa các bên đã thu hẹp khi nhiều trường chủ động mở rộng hợp tác, nhưng thách thức lớn nhất vẫn là chuyển từ "ký kết hợp tác" sang "đồng thiết kế chuẩn đầu ra, đồng tổ chức đào tạo và cùng chịu trách nhiệm về chất lượng".

"Chúng ta không nên chỉ đếm số lượng bản ghi nhớ hợp tác (MOU). Hãy đo tỷ lệ chương trình có doanh nghiệp đồng xây dựng, đo chất lượng thực hành, việc làm đúng nghề, sự hài lòng của doanh nghiệp và mức độ gắn kết bền vững giữa các bên", bà Tú Anh nhấn mạnh.

Chia sẻ về thực tiễn, Phó Cục trưởng dẫn chứng nhiều điểm sáng trong hệ thống tại Trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng với trên 90% sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp và thu hút hơn 500 doanh nghiệp tuyển dụng hàng năm; Trường Cao đẳng Công nghệ Lilama có 2 hợp tác sâu rộng với hơn 200 doanh nghiệp; hay Trường Cao đẳng Truyền thông và Công nghệ Hà Nội hợp tác hiệu quả với hàng chục doanh nghiệp Hàn Quốc, đảm bảo sinh viên ra trường có mức lương trên 15 triệu đồng/tháng.

Để đẩy mạnh chuyển đổi số thực chất, bà Vũ Thị Tú Anh đề xuất triển khai các công cụ tiên tiến như hồ sơ năng lực số, vi chứng chỉ để ghi nhận linh hoạt quá trình học tập và kỹ năng thực hành; đồng thời ứng dụng AI, VR, AR và Digital Twin để người học trải nghiệm môi trường sản xuất thực tế trước khi bước vào xưởng máy.

Linh hoạt mô hình đào tạo

Ở góc độ tổ chức giáo dục quốc tế, bà Mish Eastman, Phó Hiệu trưởng phụ trách Giáo dục nghề nghiệp, Đại học RMIT, mang đến góc nhìn toàn diện về bài học kinh nghiệm từ Úc và mô hình đào tạo linh hoạt.

Bà Mish Eastman đánh giá cao tham vọng phát triển kinh tế và đổi mới GDNN của Việt Nam. Theo bà, trước sự bùng nổ của công nghệ số và AI, kỹ năng của lực lượng lao động không chỉ dừng lại ở năng lực chuyên môn kỹ thuật mà phải tích hợp chặt chẽ với các kỹ năng mềm cốt lõi như trí tuệ cảm xúc, năng lực lãnh đạo, tư duy giải quyết vấn đề phức tạp và giao tiếp tự tin.

Các diễn giả trao đổi tại hội thảo.

Các diễn giả trao đổi tại hội thảo.

"Hệ thống GDNN cần được thiết kế hài hòa, kết nối chặt chẽ giữa giáo dục đại học, cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp. Việc đồng thiết kế chương trình giúp thu hẹp khoảng cách kỹ năng, đảm bảo trang bị cho người học bộ kỹ năng có thể làm việc trọn đời và ứng biến linh hoạt trước những thay đổi của thị trường", đại diện Đại học RMIT chia sẻ.

Đồng quan điểm về tính linh hoạt trong đào tạo số, ông Volker Schmid Martin, Phó Giám đốc Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (Tập đoàn FESTO Didactic), trình bày giải pháp triển khai hiệu quả nền tảng học liệu số và hồ sơ năng lực số phục vụ mục tiêu học tập suốt đời.

Ông Martin chỉ ra rằng, rào cản lớn trong kỷ nguyên số là tình trạng nhiễu loạn thông tin và khoảng cách về năng lực tiếp cận công nghệ. Do đó, việc trang bị năng lực số cho cả giáo viên lẫn học viên để xác thực thông tin chính xác là điều kiện tiên quyết. Bên cạnh đó, xu hướng đào tạo hiện đại cần chuyển dịch từ các tiết học lý thuyết dài sang các module bài học nhỏ (micro-learning) dài từ 5 đến 15 phút, giúp người lao động có thể tranh thủ nâng cao kỹ năng ngay trong quá trình làm việc.

Tuy nhiên, đại diện FESTO Didactic cũng lưu ý: "Công nghệ, AI hay mô phỏng số chỉ là hạ tầng hỗ trợ. Bản chất của đào tạo nghề vẫn phải dựa trên thực hành thực tế, xưởng máy thực tế và các tiêu chuẩn đánh giá tin cậy. Chuyển đổi số chỉ thực sự có ý nghĩa khi làm cho năng lực của người học trở nên minh bạch hơn, dễ kiểm chứng hơn và mang lại giá trị thực cho doanh nghiệp".

Các tham luận tại hội thảo đã khắc họa một bức tranh toàn cảnh và thống nhất về lộ trình chuyển đổi số của giáo dục nghề nghiệp: Chuyển đổi số không đơn thuần là trang bị máy móc hay số hóa giáo trình, mà là sự chuyển đổi về tư duy và mô hình quản trị. Bằng việc gắn kết chặt chẽ hệ sinh thái giáo dục với hệ sinh thái việc làm, lấy năng lực thực chất của người học và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp làm thước đo cao nhất, giáo dục nghề nghiệp sẽ trở thành động lực then chốt thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững trong kỷ nguyên số.

Lê Vân/Báo Tin tức và Dân tộc

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/tai-cau-truc-giao-duc-nghe-nghiep-trong-ky-nguyen-so-post1392820.html