Tái cơ cấu ngành công nghiệp: Nâng giá trị, tăng năng lực tự chủ
Tái cơ cấu lĩnh vực công nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, năng lực tự chủ và sức cạnh tranh đang trở thành yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng nâng cao chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững.
Chuyển dịch cơ cấu theo hướng giá trị gia tăng cao
Theo Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương), mục tiêu tăng trưởng công nghiệp năm 2026 được đặt ở mức 12 - 14%. Để đạt mục tiêu này, yêu cầu đặt ra là thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo, phát triển công nghiệp hỗ trợ và từng bước nâng cao năng lực làm chủ chuỗi cung ứng.

Đề án Tái cơ cấu ngành Công Thương đến năm 2030 tập trung vào chuyển dịch cơ cấu theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và hàm lượng công nghệ.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Bộ Công Thương cũng thẳng thắn nhìn nhận công nghiệp chế biến, chế tạo và công nghiệp hỗ trợ trong nước vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu về nguyên vật liệu, phụ tùng và linh kiện của nhiều ngành sản xuất lớn. Sự phụ thuộc vào nguồn đầu vào nhập khẩu tiếp tục là một điểm nghẽn, ảnh hưởng đến năng lực tự chủ, khả năng cạnh tranh và sức chống chịu của nền sản xuất.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Trần Việt Hòa - Cục trưởng Cục Công nghiệp cho biết, năm 2025, công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm khoảng 24,5% GDP, trong khi mục tiêu đến năm 2030 là nâng tỷ trọng này lên khoảng 28%. Khoảng cách giữa thực trạng và mục tiêu cho thấy yêu cầu đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu, nâng cao chất lượng tăng trưởng của ngành công nghiệp trong những năm tới. “Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam vẫn còn nhiều điểm nghẽn chưa được khắc phục như phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài, năng lực tự chủ và sức chống chịu của nền sản xuất nội địa còn rất nhiều hạn chế”, ông Trần Việt Hòa nêu.
Từ thực tế đó, định hướng tái cơ cấu ngành công nghiệp được xác định theo hướng chuyển dịch cơ cấu nội ngành từ các lĩnh vực thâm dụng tài nguyên, lao động sang các ngành thâm dụng vốn và công nghệ; phát triển công nghiệp xanh, công nghiệp các-bon thấp. Đồng thời, từng bước chuyển từ các công đoạn có giá trị gia tăng thấp sang những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn, qua đó nâng cao vị thế của công nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Theo mục tiêu của Đề án Tái cơ cấu ngành Công Thương giai đoạn đến năm 2030, phấn đấu tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt khoảng 30%, với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 9 - 10%/năm. Tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong các ngành chế biến, chế tạo đạt trên 45%. Để thực hiện mục tiêu này, phát triển công nghiệp chế tạo thông minh được xác định là một trong những hướng đột phá. Quá trình này gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm hình thành năng lực sản xuất mới, nâng cao khả năng phát triển các sản phẩm công nghệ cao. Cùng với đó, định hướng phát triển các sản phẩm công nghiệp quốc gia dựa trên công nghệ mới, công nghệ cao và các ngành kinh tế sáng tạo tiếp tục được thúc đẩy, trong đó chú trọng các sản phẩm theo tinh thần “Make in Viet Nam”, sáng tạo tại Việt Nam, thiết kế tại Việt Nam và tích hợp thành sản phẩm thương mại tại Việt Nam.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Nguyễn Văn Hội - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Chính sách Công Thương (Bộ Công Thương) cho biết, về công nghiệp, mục tiêu đến năm 2030 tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt 30%. Tốc độ tăng trưởng hiện đã đạt khá cao nhưng quan trọng phải phát triển được ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao. Từ đó đóng góp cho phát triển công nghiệp nền tảng, thúc đẩy phát triển thị trường nội địa, xuất khẩu.
Nâng cấp chuỗi cung ứng, tăng năng lực sản xuất trong nước
Một trong những trọng tâm của quá trình tái cơ cấu là hoàn thiện hệ thống sản xuất công nghiệp trong nước thông qua nâng cấp chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị. Thực tế cho thấy, năng lực sản xuất nguyên vật liệu, linh kiện và phụ tùng trong nước vẫn còn hạn chế, khiến nhiều ngành sản xuất lớn phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài. Điều này không chỉ làm giảm giá trị gia tăng nội địa mà còn ảnh hưởng đến khả năng chủ động của doanh nghiệp và sức chống chịu của nền kinh tế.

Phấn đấu đến năm 2030 Việt Nam là nước có công nghiệp hiện đại, thuộc nhóm quốc gia có năng lực cạnh tranh công nghiệp cao.
Do đó, Bộ Công Thương xác định tiếp tục chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng các ngành chế biến, chế tạo, giảm tỷ trọng gia công, lắp ráp đối với các sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam. Đồng thời, từng bước tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng tỷ lệ nội địa hóa và xây dựng các hàng rào kỹ thuật phù hợp đối với sản phẩm nhập khẩu nhằm hỗ trợ sản xuất trong nước.
Theo ông Trần Việt Hòa, Bộ sẽ xem xét nghiên cứu và ban hành các ưu đãi, hỗ trợ cho việc sản xuất các vật liệu cơ bản như thép chế tạo phục vụ ngành cơ khí; nguyên phụ liệu, vải và da thuộc cho ngành dệt may, da - giày; các sản phẩm từ hóa dầu như hạt nhựa, khuôn nhựa, cao su nhân tạo, sợi nhân tạo… nhằm bảo đảm đầu vào cho công nghiệp hỗ trợ và các ngành công nghiệp hạ nguồn.
Đối với công nghiệp hỗ trợ, định hướng là tập trung phát triển để đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghiệp xuất khẩu lớn như điện tử, ô tô, dệt may, da giày, cơ khí và công nghệ cao; đồng thời nâng cao khả năng đáp ứng các quy tắc về xuất xứ trong các hiệp định thương mại tự do.
Mục tiêu đến năm 2030, công nghiệp hỗ trợ đáp ứng khoảng 70% nhu cầu sản xuất trong nước. Cùng với việc mở rộng năng lực sản xuất, yêu cầu đặt ra là tăng cường làm chủ công nghệ cốt lõi, xây dựng thương hiệu Việt Nam và nâng cao vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Theo Bộ Công Thương, nguồn lực xã hội cần tập trung vào việc xây dựng và nâng cao năng lực, năng suất cho doanh nghiệp công nghiệp trong nước; hình thành các doanh nghiệp công nghiệp mạnh, các chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị trong nước có khả năng cạnh tranh toàn cầu. Đây cũng là điều kiện để tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực đầu tư nước ngoài và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Cơ cấu lại không gian công nghiệp, tạo động lực tăng trưởng mới
Tái cơ cấu công nghiệp không chỉ diễn ra trong từng ngành, từng lĩnh vực mà còn đặt ra yêu cầu cơ cấu lại không gian phát triển theo lợi thế của từng vùng, từng địa phương.
Theo Quyết định số 165/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành Công Thương giai đoạn đến năm 2030, định hướng là cơ cấu lại các khu kinh tế, khu công nghiệp theo hướng bền vững, sinh thái; gắn với hình thành các cụm liên kết ngành công nghiệp, mạng sản xuất và chuỗi giá trị dựa trên lợi thế so sánh của từng địa bàn và từng vùng. Theo đó, vùng trung du và miền núi phía Bắc phát huy lợi thế về khoáng sản gắn với chế biến sâu, phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản, sản xuất phân bón và hóa chất. Vùng đồng bằng sông Hồng tập trung vào các ngành công nghiệp hiện đại, công nghệ cao, điện tử, sản xuất ô tô và công nghiệp hỗ trợ.
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung phát triển các khu kinh tế, tổ hợp công nghiệp lọc dầu, hóa dầu, hóa chất, luyện kim, sản xuất và lắp ráp ô tô; đồng thời phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và công nghiệp chế biến nông, thủy sản.
Tây Nguyên tập trung phát triển công nghiệp khai thác, chế biến bô-xít, alumin, công nghiệp chế biến nhôm và các chuỗi liên kết trong sản xuất, chế biến nông sản. Đông Nam Bộ tiếp tục phát triển các ngành điện, điện tử, dệt may, da giày và chuỗi công nghiệp gắn với các hành lang kinh tế.
Đồng bằng sông Cửu Long tập trung phát triển công nghiệp chế biến nông, thủy sản và năng lượng tái tạo. Đối với vùng ven biển, định hướng là phát triển các ngành công nghiệp quy mô lớn như thép, hóa chất, chế biến sâu khoáng sản; cùng với các ngành đóng và sửa chữa tàu, lọc dầu, hóa dầu, khai thác dầu khí và năng lượng tái tạo.
Từ thực tế phát triển tại các địa phương, trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Phạm Văn Quân - Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp nêu, để đạt mức tăng trưởng “2 con số”, các địa phương cần tìm kiếm những nguồn lực tăng trưởng mới mang tính đột phá, trong đó có việc thu hút các dự án sản xuất công nghiệp quy mô lớn hoặc phát triển các ngành, nghề sản xuất mới.
Một số dự án công nghiệp quy mô lớn được khởi công, khánh thành thời gian qua như Nhà máy Sản xuất ray và thép đặc biệt Hòa Phát Dung Quất của Tập đoàn Hòa Phát hay Nhà máy Sản xuất thép VinMetal Hà Tĩnh của Vingroup được kỳ vọng sẽ góp phần tạo thêm năng lực sản xuất cho ngành luyện kim và công nghiệp nặng.
Tuy nhiên, quá trình thu hút và phát triển các dự án công nghiệp quy mô lớn vẫn đang gặp một số khó khăn. Hạ tầng giao thông nội vùng và liên vùng tại một số địa phương chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu; quỹ đất công nghiệp tại một số nơi đang thu hẹp hoặc chưa được quy hoạch mở rộng kịp thời. Bên cạnh đó, nhiều địa phương còn thiếu hệ thống doanh nghiệp phụ trợ và nguồn nhân lực phù hợp để thu hút các dự án sản xuất công nghiệp lớn.
Để tháo gỡ những điểm nghẽn này, Bộ Công Thương xác định đột phá thể chế là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Trong đó, xây dựng Luật Công nghiệp trọng điểm được kỳ vọng tạo hành lang pháp lý thống nhất, triển khai các chính sách ưu đãi đặc thù, thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, mũi nhọn và hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Theo Cục Công nghiệp, tái cơ cấu ngành công nghiệp cần tập trung vào 3 nội dung trọng tâm: chuyển dịch cơ cấu sang các ngành có giá trị gia tăng và hàm lượng công nghệ cao; nâng cấp chuỗi cung ứng, tăng năng lực sản xuất và tự chủ của doanh nghiệp trong nước; đồng thời cơ cấu lại không gian phát triển công nghiệp theo lợi thế của từng vùng để hình thành các động lực tăng trưởng mới.
