Tầm nhìn quản trị xanh từ Khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm (Kỳ cuối: Để bảo tồn trở thành động lực phát triển)
Nếu hệ sinh thái là nền tảng của khu dự trữ sinh quyển thì cộng đồng chính là nhân tố quyết định hiệu quả và tính bền vững của công tác bảo tồn. Thực tiễn tại nhiều khu dự trữ sinh quyển trên thế giới cho thấy, không có mô hình bảo tồn nào có thể thành công lâu dài nếu người dân địa phương chỉ là đối tượng được quản lý, thay vì trở thành chủ thể tham gia và đồng hành trong quá trình bảo tồn.

Sinh kế người dân từ đảo Cù Lao Chàm. Ảnh: Minh Sơn
Du lịch sinh thái - động lực phát triển từ giá trị thiên nhiên
Trong công tác quản lý, bảo vệ môi trường Khu Dự trữ Sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An giai đoạn 2026–2030, bên cạnh các mục tiêu phục hồi hệ sinh thái rừng, biển và bảo tồn đa dạng sinh học, cần coi việc gắn bảo tồn với phát triển sinh kế, kinh tế xanh và nâng cao chất lượng sống của cộng đồng là định hướng xuyên suốt. Khi người dân được hưởng lợi từ tài nguyên một cách hợp pháp và bền vững, họ sẽ trở thành lực lượng tiên phong trong gìn giữ các giá trị thiên nhiên. Theo đó, cộng đồng địa phương cần được trang bị kiến thức, kỹ năng và tạo điều kiện tiếp cận các mô hình khai thác tài nguyên theo hướng bền vững. Đồng thời, người dân cần được khuyến khích tham gia trực tiếp vào các hoạt động như: bảo tồn, giám sát, phát huy giá trị tài nguyên thiên nhiên,… qua đó chuyển từ vai trò đối tượng thụ hưởng sang chủ thể đồng hành trong công tác bảo tồn.
Song song với nâng cao năng lực, các giải pháp phát triển sinh kế cũng cần hướng đến theo hướng gia tăng giá trị tài nguyên bản địa thay vì khai thác đơn thuần. Việc chế biến sâu các sản phẩm đặc trưng, xây dựng thương hiệu địa phương, phát triển du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, các dịch vụ trải nghiệm như: lặn biển, khám phá rạn san hô, tham quan rừng ngập mặn hay các sản phẩm gắn với văn hóa bản địa sẽ giúp mở rộng nguồn thu nhập cho người dân. Đây cũng là định hướng phù hợp với xu thế phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên mà nhiều quốc gia trên thế giới đang theo đuổi, đồng thời góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu và suy giảm đa dạng sinh học ngày càng gia tăng.
Trong các mô hình kinh kế xanh, du lịch sinh thái được xem là một trong những động lực quan trọng để chuyển hóa các giá trị tự nhiên và văn hóa của khu dự trữ sinh quyển thành giá trị kinh tế bền vững. Khác với mô hình du lịch đại trà, xu hướng du lịch hiện nay hướng nhiều hơn đến trải nghiệm, giáo dục, trách nhiệm với môi trường và giảm phát thải. Đây cũng là lợi thế nổi bật của Khu Dự trữ Sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An khi sở hữu đồng thời các hệ sinh thái biển, rừng và di sản văn hóa đặc sắc.
Tuy nhiên, phát triển du lịch chỉ thực sự bền vững khi nằm trong giới hạn chịu tải của hệ sinh thái. Bài học từ nhiều điểm đến nổi tiếng trên thế giới cho thấy, tăng trưởng nóng có thể nhanh chóng tạo áp lực lên nguồn nước, chất thải, cảnh quan, đa dạng sinh học,… làm suy giảm chính những giá trị tạo nên sức hấp dẫn của điểm đến. Vì vậy, cùng với việc đa dạng hóa các sản phẩm du lịch xanh, thành phố cần sớm hoàn thiện hệ thống đánh giá sức tải môi trường đối với từng khu vực; kiểm soát lượng khách tại các vùng nhạy cảm về sinh thái; xây dựng bộ tiêu chí du lịch sinh thái có trách nhiệm; triển khai nhãn sinh thái đối với cơ sở lưu trú, phương tiện vận chuyển và các dịch vụ du lịch. Đồng thời, cần thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn trong quản lý chất thải, tăng cường sử dụng năng lượng tái tạo và hạn chế rác thải nhựa dùng một lần để bảo đảm hoạt động du lịch không làm tổn hại đến hệ sinh thái.
Hoàn thiện thể chế để hiện thực hóa tầm nhìn quản trị xanh
Để các mục tiêu bảo tồn và phát triển đi vào thực tiễn, yếu tố quyết định là xây dựng được cơ chế quản trị đủ mạnh, có khả năng điều phối hiệu quả giữa các ngành, các cấp và cộng đồng. Theo đó, thành phố cần tiếp tục hoàn thiện mô hình quản trị liên ngành đối với Khu Dự trữ Sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các lĩnh vực tài nguyên và môi trường, nông nghiệp, văn hóa, du lịch, khoa học - công nghệ cùng chính quyền địa phương. Đặc thù của khu dự trữ sinh quyển là mọi quyết định phát triển đều tác động đồng thời đến hệ sinh thái, sinh kế và di sản văn hóa, do đó đòi hỏi cách tiếp cận quản trị tích hợp thay vì quản lý theo từng lĩnh vực riêng lẻ. Cùng với đó, chuyển đổi số cần trở thành công cụ quan trọng trong quản trị tài nguyên. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu số thống nhất về đa dạng sinh học, chất lượng môi trường, diễn biến rừng, rạn san hô, cỏ biển, nguồn lợi thủy sản,… sẽ tạo nền tảng cho quản lý dựa trên dữ liệu thay vì kinh nghiệm. Các công nghệ như: viễn thám, GIS, thiết bị bay không người lái (drone), trí tuệ nhân tạo và hệ thống quan trắc tự động cần được ứng dụng rộng rãi nhằm theo dõi diễn biến tài nguyên theo thời gian thực, kịp thời phát hiện và xử lý các nguy cơ xâm hại hệ sinh thái.
Bên cạnh thể chế và công nghệ, việc bảo đảm nguồn lực tài chính lâu dài cũng là điều kiện tiên quyết để bảo tồn phát huy hiệu quả. Ngoài ngân sách nhà nước, thành phố cần đẩy mạnh huy động các nguồn lực xã hội hóa, mở rộng hợp tác công - tư, tranh thủ các quỹ môi trường, quỹ khí hậu quốc tế và từng bước nghiên cứu cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái, phát triển tín chỉ carbon từ rừng, cỏ biển và các hệ sinh thái "carbon xanh". Bảo tồn chỉ thực sự bền vững khi thiên nhiên không chỉ được gìn giữ mà còn tạo ra giá trị kinh tế để tái đầu tư cho chính hoạt động bảo tồn. Chu trình khép kín này sẽ tạo nền tảng tài chính ổn định, giúp công tác quản lý tài nguyên được duy trì hiệu quả và lâu dài. Song song với đó, truyền thông và giáo dục môi trường cần được xem là một phần của hạ tầng phát triển. Việc đưa các nội dung về đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu và bảo tồn vào trường học; khuyến khích doanh nghiệp tham gia các sáng kiến xanh; xây dựng mạng lưới tình nguyện viên bảo tồn và phát huy vai trò giám sát của cộng đồng,… sẽ góp phần hình thành văn hóa ứng xử thân thiện với thiên nhiên. Đây cũng là tiền đề quan trọng để gắn kết hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, phát huy giá trị tài nguyên thiên nhiên, văn hóa và đa dạng sinh học.











