Tầm nhìn, triết lý và động lực phát triển quốc gia
Chào Xuân Bính Ngọ 2026, trên nền móng 40 năm đổi mới, dân tộc tất yếu đi tới Canh Ngọ 2050 với khát vọng Việt Nam phú cường.

Quang cảnh phiên khai mạc Đại hội XIV của Đảng. Ảnh: TTXVN
Sau 40 năm đổi mới, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử tuy đã tạo nên vị thế, sức mạnh và uy tín mới của đất nước nhưng chưa như chúng ta mong đợi, càng chưa tương xứng với tiềm năng phát triển, nhất là chưa định vị và tạo ảnh hưởng xứng đáng của đất nước trong hệ giá trị phát triển của thế giới.
Đại hội lần thứ XIV của Đảng quyết sách chiến lược con đường phát triển quốc gia rất trọng đại nhưng rất khó khăn và thách thức. Trong tầm nhìn năm 2050, sự phát triển Việt Nam phú cường không chỉ ở quy mô mà ở chiều sâu và tốc độ của sự phát triển bền vững và nhân văn.
Nó đòi hỏi đổi mới tầm nhìn, tư duy, triết lý phát triển, đặc biệt về tâm thế quốc gia, tâm lý dân tộc, về hệ động lực phát triển và phương thức hành động nhằm nhân lên sức mạnh toàn dân tộc. Khi tình thế lịch sử trong nước và toàn thế giới đã thay đổi, rất khác trước.
Tầm nhìn kiến tạo và triết lý phát triển quốc gia tầm vóc năm 2050
Kiên định tầm nhìn Việt Nam hùng cường - thịnh trị - văn minh 2050, dân tộc Việt Nam phải bước vào kỷ nguyên phú cường - kỷ nguyên phát triển tầm vóc và khai mở tương lai. Việt Nam chỉ phát triển khi tư duy quốc gia chuyển từ theo kịp sang dẫn dắt - sáng tạo - định vị chiến lược quốc gia với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, hiện đại hóa thể chế, xây dựng lực lượng tinh hoa tri thức và nâng tầm vị thế quốc gia trong trật tự thế giới biến động. Ưu tiên chiến lược quốc gia dài hạn, vượt khỏi các nhiệm kỳ, bằng sức mạnh dân tộc trong thời đại trí tuệ: tri thức, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo. Con người Việt Nam là gốc của mọi hình thái phát triển. Bản sắc Việt Nam như nền tảng và linh hồn để hội nhập đa dạng trong thống nhất quốc tế.
Phát triển quốc gia phải bắt đầu từ phát triển phẩm chất con người: trí tuệ, nhân cách, lý tưởng và con người. Con người không chỉ là đối tượng của phát triển mà là trung tâm, là chủ thể - động lực - mục tiêu của phát triển. Đây là tinh thần xây dựng tầm vóc dân tộc, xây dựng dân trí - dân khí - dân quyền - dân chủ.
“Sức mạnh Việt Nam là sức mạnh của bản sắc trong hội nhập”. Để tránh đồng hóa, bản sắc dân tộc không đối lập phát triển mà tạo nên sức mạnh cạnh tranh mềm. Văn hóa là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực đột phá, thật sự là trụ cột đổi mới sáng tạo.
Phát triển dựa trên trí tuệ - công nghệ - đổi mới. Nếu trí tuệ Việt Nam là tài nguyên đặc biệt thì công nghệ và khoa học là nhịp dẫn của phát triển và đổi mới sáng tạo là động lực của kỷ nguyên phú cường với những xung lực phát triển chuyển đổi số quốc gia, kinh tế tri thức.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển: Thượng tôn pháp luật; bộ máy tinh gọn, hiệu lực, liêm chính, kiến tạo nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả dẫn dắt chiến lược, xây dựng hệ thể chế để phát huy sức mạnh toàn dân tộc thống nhất, đồng bộ và phù hợp.
Tâm thế quốc gia - kết tinh của ý chí, bản lĩnh và khát vọng dân tộc
Tâm thế quốc gia quyết định số phận và tương lai quốc gia. Nói một cách cụ thể, đó là tư thế, bản lĩnh, trí tuệ, khí phách và đạo lý ứng xử của dân tộc trước lịch sử, trước nhân loại và trước vận mệnh của chính mình trong tầm nhìn năm 2045.
Trước thế giới bất ổn, bất định, bất khả tri, từ chỗ đứng của mình, cần giữ vững tâm thế quốc gia vững chãi ứng với vạn biến:
Một: Bản lĩnh chính trị: Từ Đảng đến Nhà nước và Nhân dân đều giữ bản lĩnh đối diện với mọi biến động toàn cầu.
Hai: Tư duy đổi mới: Không chỉ là cải cách hành chính hay phát triển công nghệ mà là đổi mới cách nghĩ, cách cảm, cách hành động ở tầm quốc gia tương dung với thế giới.
Ba: Khát vọng phát triển lớn lao: Đặt mục tiêu sánh vai với các cường quốc năm châu, như Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn, làm danh dự và uy tín đất nước.
Bốn: Văn hóa làm nền tảng tinh thần: Xây dựng bản sắc “căn cước văn hóa quốc gia” trong cuộc hội nhập sâu rộng toàn cầu.
Năm: Giá trị con người làm trung tâm: Trọng dụng hiền tài, nâng tầm nhân lực, con người là gốc rễ của mọi phát triển.
Không có tâm thế quốc gia để định vị đất nước, dân tộc không thể bước vào kỷ nguyên mới với tư cách chủ thể lịch sử. Kinh nghiệm lịch sử từ không ít quốc gia dân tộc cho thấy, khi dân tộc không có tâm thế quốc gia thì mãi chỉ là đối tượng bị dẫn dắt, thần phục, thậm chí lâm vào xích xiềng lệ thuộc, thậm chí bị khuất phục và làm nô lệ ngay từ tư tưởng và tinh thần.
Ðảng lãnh đạo bằng trí tuệ, đạo lý và niềm tin của nhân dân, chứ không chỉ bằng nghị quyết. Gìn giữ và phát triển mối quan hệ mang tính “huyết mạch chính trị” giữa Ðảng và dân tộc, trong đó Ðảng phải tự đổi mới không ngừng để phù hợp với vai trò đại diện lịch sử của dân tộc và xứng đáng với đạo lý là “con nòi” của nhân dân. Và, nhân dân được tôn vinh là chủ thể đồng kiến tạo sự phát triển quốc gia.
Tâm lý quốc dân - một cách mạng tinh thần
Hơn bao giờ hết, đã đến lúc Việt Nam phải tự mình bước vào thế giới, không phải với tư cách một đất nước đang phát triển mà với tư cách một quốc gia có tâm thế phát triển.
Trên nền tảng khơi dậy, định hình và phát triển tâm thế quốc gia, không đổi mới tâm lý quốc dân, mọi chiến lược phát triển dù tốt đẹp đến đâu cũng bị kéo lùi bởi lực cản vô hình. Sự nghèo nàn, thiển cận về tư tưởng còn dai dẳng, thảm hại gấp trăm lần sự nghèo đói về vật chất. Mỗi người Việt Nam cần được “lập trình lại” từ bên trong với bản lĩnh, khát vọng Việt Nam và xu thế thời đại.
Mục tiêu của đổi mới tâm lý quốc dân: Xây dựng quốc dân trong thời đại số là xây dựng công dân có tâm thế quốc gia: chuyển từ thụ động sang chủ động, kiến tạo; từ yếm thế sang tích cực, khai phóng; từ manh mún, cục bộ sang hợp tác và thống nhất…
Con đường đổi mới tâm lý quốc dân: Đổi mới giáo dục và truyền thông công dân; nâng cao dân trí và lòng tự tôn dân tộc; gương mẫu từ đội ngũ cán bộ lãnh đạo, đặc biệt là trí thức, văn nghệ sĩ và khơi dậy “một quốc dân mới” có phẩm chất hiện đại, hội nhập mà vẫn giữ gốc văn hóa dân tộc. Báo chí không chỉ đưa tin mà phải dẫn dắt tư tưởng xã hội, củng cố tinh thần tự tin, tự lực, tự cường, hợp tác bình đẳng với thế giới nhưng không ảo tưởng hay lạc quan tếu, chủ quan hay kiêu ngạo... Đồng thời nhận diện và khắc chế những lực cản phát triển: tâm lý an phận, cam chịu, tự ti trước thế giới; lối sống “dĩ hòa vi quý”, ngại va chạm, ngại thay đổi, tính cục bộ địa phương, lợi ích nhóm; thiếu tinh thần trách nhiệm công dân, công vụ…
Trên hành trình hình thành tâm thế quốc gia và đổi mới tâm lý quốc dân không chỉ dừng ở kêu gọi mà là hành động. Đây không phải là đổi mới tư duy một cách vụn vặt, nửa vời hay tùy hứng nhất thời mà là một cuộc tự vượt lên mình về tầm nhìn và hành động hợp thành triết lý chính trị xã hội phát triển quốc gia thịnh vượng toàn diện.
Ý Đảng - lòng dân - sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vô địch
Không ai có thể lãnh đạo dân tộc nếu không thấm được linh hồn dân tộc.
Không có một đảng chính trị nào trên thế giới mang sứ mệnh lịch sử như Đảng ta: Không chỉ giải phóng dân tộc mà còn kiến tạo tương lai cho cả một dân tộc độc lập, tự chủ, phồn vinh và nhân văn.
Chính trị là trách nhiệm thiêng liêng trước dân tộc, không chỉ là quyền lực. Sự thống nhất giữa Đảng - Dân tộc - Đất nước - Thời đại là linh hồn và rường cột của triết lý phát triển Việt Nam. Đảng phải đi trước thời đại. Đảng lãnh đạo bằng tầm nhìn, bằng văn hóa, bằng niềm tin, sự thuyết phục và đức hy sinh. Tương lai dân tộc tùy thuộc vào tầm nhìn, trí tuệ và đạo đức của Đảng. Tầm nhìn, tư duy của Đảng phải thấm đẫm linh hồn dân tộc, linh khí đất nước, khát vọng dân tộc; đồng thời khát vọng quốc gia phải trở thành tư duy hành động trước hết của toàn Đảng.
Đảng không chỉ là lực lượng lãnh đạo xã hội mà còn phải là người kiến tạo tương lai dân tộc, dám nghĩ, dám đổi mới, dám hành động trước thách thức của thời đại; có năng lực hoạch định chiến lược, không đơn thuần ứng phó tình huống mà dự báo, dẫn dắt sự phát triển của đất nước trong xu thế toàn cầu hóa, chuyển đổi số, biến động địa chính trị, địa kinh tế thế giới.
Đảng không thể là một tổ chức đóng kín mà phải là máu thịt trong nhân dân. Đảng chỉ mạnh khi hòa quyện và thống nhất trong mạch nguồn dân tộc, khi xứng đáng là “đứa con nòi” của nhân dân: Dân tộc là gốc, là nền tảng xã hội - chính trị - văn hóa của Đảng. Đảng tồn tại và mạnh mẽ là nhờ dân tin và dân bảo vệ. Đảng càng phải xứng đáng là hiện thân trí tuệ, lương tri và đạo đức của dân tộc, không xa rời nhân dân, càng không được đứng trên nhân dân. Mọi chính sách đều phải xuất phát từ nhu cầu, lợi ích và năng lực của nhân dân, tránh quan liêu, xa rời thực tế. Nhân dân là chủ thể quyền lực, là trung tâm, là nguồn cảm hứng sáng tạo của Đảng - “người đày tớ” và “con nòi” của nhân dân.
Đó là pháp lý tối thượng và đạo lý ngàn năm!
Trước xu thế phát triển khắc nghiệt của thời đại và thách thức to lớn của đất nước trong cuộc chuyển mình toàn diện và trở nên hùng cường, nhịp bước cùng thời đại, Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn để thích ứng và phát triển bản sắc. Không đổi mới chính mình không thể hiện đại hóa dân tộc và không thể lãnh đạo thành công. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng không chỉ là tổ chức, mà là tâm thức phụng sự dân tộc và văn hóa lãnh đạo, cầm quyền nhân văn.
Do đó, yêu cầu cấp bách và mang tính chiến lược trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng là tăng cường bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, trí tuệ và năng lực hành động. Trước hết, đổi mới tư duy lãnh đạo trong điều kiện hội nhập và cách mạng công nghiệp lần thứ 4; chấn chỉnh công tác cán bộ, chọn trúng nhân tài song hành chống suy thoái tư tưởng, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. “Cán bộ là gốc của công việc”… Mọi quyết sách của Đảng phải đặt trong ý dân, làm cho dân tin, dân theo, dân đồng lòng, dân thực thi và Đảng đồng hành cùng nhân dân. Nhân dân là gốc của nước, nhân dân là chủ thể của mọi sự thành công của công cuộc đổi mới. Không ai có thể đứng ngoài trách nhiệm với nhân dân và vận mệnh dân tộc. Tổ quốc không cần những người giỏi nói mà chỉ cần những người trong sạch, dám hành động và dũng cảm chịu trách nhiệm vì nhân dân và trước đất nước.
Đảng xứng đáng là tấm gương văn hóa về tư duy, đạo đức, hành động và cách phụng sự dân tộc.
Trên nền tảng lịch sử 4 ngàn năm dân tộc và nương theo ngọn gió thời đại, dưới ngọn cờ của Đảng, Việt Nam kiên định kiến tạo kỷ nguyên phú cường bằng trí tuệ dân tộc sáng tạo được tôn vinh, khát vọng hùng cường của đất nước được nâng niu, với hệ thể chế kiến tạo, giải phóng trên nền móng sức mạnh văn hóa bản sắc, hiện đại, đất nước không chỉ phú cường - bản sắc - nhân văn trong kỷ nguyên toàn cầu hóa mà còn đóng góp tích cực, đầy trách nhiệm vì sự tiến bộ và phát triển của nhân loại.
Với tầm nhìn toàn cục thế giới, từ lịch sử và trên mảnh đất của mình, hành động một cách độc lập, sáng tạo và quả cảm, kỳ vọng Việt Nam sẽ không chỉ cập bến phú cường, nhân dân tới bờ hạnh phúc mà còn trở thành một hình mẫu quốc gia văn minh, dân chủ và nhân văn, nhịp bước cùng thời đại trong thế kỷ XXI.
Từ Xuân Bính Ngọ 2026, trong tầm nhìn Xuân Canh Ngọ 2050, với bản lĩnh Phù Đổng, 25 năm dân tộc nhất định “mã đáo thành công”.











