TAND Tối cao đề xuất mới về tài sản đặt cọc là vật có giá trị khác
Theo dự thảo, TAND Tối cao đưa ra 2 phương án về tài sản đặt cọc là vật có giá trị khác.
TAND Tối cao đang dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về đặt cọc, trong đó có việc xác định tài sản đặt cọc.
2 phương án về vật có giá trị khác
Theo đó, tại Điều 5 dự thảo đưa ra 2 phương án về tài sản đặt cọc.
Phương án 1 là “Vật có giá trị khác” quy định tại khoản 1 Điều 328 của BLDS là tài sản theo quy định tại Điều 105 của BLDS trừ tiền, kim khí quý, đá quý.
“Vật có giá trị khác” phải không bị cấm, hạn chế giao dịch, có thể chuyển giao cho bên nhận đặt cọc nắm giữ và xác định được giá trị bằng một khoản tiền nhất định tại thời điểm đặt cọc, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Phương án 1 đưa ra 2 ví dụ chi tiết như sau:
Ví dụ 1: Công ty M (là doanh nghiệp nước ngoài có trụ sở tại Mỹ) ký hợp đồng mua lô hàng cà phê của Công ty D (là công ty Việt Nam có trụ sở tại Đắk Lắk). Hợp đồng mua bán xuất khẩu ghi giá bằng USD và có điều khoản công ty M đặt cọc trước 20% giá trị hợp đồng. Công ty M chuyển khoản tiền đặt cọc bằng USD vào tài khoản của công ty D. Trường hợp này đặt cọc có hiệu lực.
Ví dụ 2: A sử dụng 10.000 cổ phiếu của Công ty X để đặt cọc cho B nhằm giao kết, thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất thuộc sở hữu hợp pháp của B. Trước đó Sở giao dịch chứng khoán ra quyết định đưa 10.000 cổ phiếu này vào diện hạn chế giao dịch do tổ chức niêm yết chậm nộp báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán. Trường hợp này đặt cọc không có hiệu lực do 10.000 cổ phiếu của A không thể chuyển giao cho B.

Ảnh minh họa.
Phương án 2 là “Vật có giá trị khác”quy định tại khoản 1 Điều 328 của BLDS là “vật”theo quy định tại Điều 105 của BLDS trừ kim khí quý, đá quý. Vật phải không bị cấm giao dịch và xác định được giá trị bằng một khoản tiền nhất định tại thời điểm đặt cọc theo quy định của pháp luật.
Cạnh đó, giá trị của tài sản đặt cọc có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp luật có quy định khác.
Tài sản đặt cọc thuộc quyền sở hữu chung thì phải được sự đồng ý của các chủ sở hữu chung còn lại trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật quy định khác.
Việc xác định giá trị bằng tiền của tài sản đặt cọc là kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác do các bên thỏa thuận tại thời điểm đặt cọc. Trường hợp các bên không thỏa thuận giá trị của tài sản đặt cọc thì giá trị của tài sản đặt cọc được Tòa án xác định là giá thị trường của tài sản đặt cọc tại thời điểm xét xử sơ thẩm.
Thứ tự thanh toán khi nhiều nghĩa vụ
Cạnh đó, tại Điều 4 dự thảo đã đưa ra quy định về thứ tự ưu tiên thanh toán khi tài sản đặt cọc được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ
Theo đó, trường hợp tài sản đặt cọc được chuyển giao cho bên nhận đặt cọc nắm giữ, chiếm giữ đồng thời tài sản đó cũng là tài sản bảo đảm trong một giao dịch khác và đã được đăng ký biện pháp bảo đảm khác theo quy định của pháp luật. Khi các biện pháp bảo đảm đều phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba theo quy định tại Điều 297 của BLDS thì thứ tự thanh toán được xác định là thứ tự xác lập hiệu lực đối kháng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 308 của BLDS.
Ví dụ: Ngày 1-1-2026, A chuyển giao ô tô cho B nắm giữ để đặt cọc cho việc giao kết, thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất thuộc sở hữu hợp pháp của B. Ngày 15-1-2026, A dùng giấy tờ của chiếc ô tô nói trên để đăng ký biện pháp đặt cọc theo đúng quy định của pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác với C. Trường hợp này B có quyền ưu tiên thanh toán theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 308 của BLDS.
Trường hợp tài sản đặt cọc được chuyển giao cho bên nhận đặt cọc nắm giữ, chiếm giữ, đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba mà tài sản đặt cọc này đồng thời được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác. Nếu biện pháp bảo đảm này không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì bên nhận đặt cọc nắm giữ, chiếm giữ tài sản đặt cọc được ưu tiên thanh toán nghĩa vụ trong thỏa thuận đặt cọc theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 308 của BLDS.
Ví dụ: A là bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc sở hữu hợp pháp của B. A đã bàn giao ô tô cho B làm tài sản đặt cọc. Trước đó, A ký hợp đồng thế chấp ô tô cho C để vay 500 triệu đồng, hợp đồng thế chấp đã được công chứng tuy nhiên chưa đăng ký biện pháp thế chấp tại cơ quan có thẩm quyền. Hợp đồng thế chấp giữa A và C không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba, thỏa thuận đặt cọc giữa A và B phát sinh hiệu lực đối kháng với C kể từ thời điểm B nhận xe từ A.
Trường hợp này, B có quyền được ưu tiên thanh toán theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 308 của BLDS.
Trường hợp tài sản được dùng để đặt cọc đồng thời được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác mà đặt cọc và biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ này đều không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập biện pháp bảo đảm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 308 BLDS.
Ví dụ: Ngày 2-1-2026, A chuyển giao ô tô cho B nắm giữ để đặt cọc cho việc giao kết, thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất thuộc sở hữu hợp pháp của B, thỏa thuận đặt cọc giữa A và B quy định biện pháp đặt cọc phải được đăng ký theo đúng quy định của pháp luật nhưng A và B chưa thực hiện việc đăng ký.
Ngày 7-1-2026, A sử dụng giấy tờ của chiếc ô tô để ký hợp đồng thế chấp ô tô cho C và vay của C 500 triệu đồng, hợp đồng thế chấp đã được công chứng tuy nhiên chưa đăng ký biện pháp thế chấp tại cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp này, B có quyền được ưu tiên thanh toán theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 308 của BLDS.
Đặt cọc là gì?
Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.
Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
(Điều 328 BLDS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017)











