Tăng cường hậu kiểm và khai thác dữ liệu để bảo vệ quyền, lợi ích người lao động
Sau hơn 5 năm áp dụng vào thực tế, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (Luật số 69/2020/QH14) đã góp phần hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng bộc lộ nhiều hạn chế, nhất là trong cải cách điều kiện đầu tư kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính và đáp ứng yêu cầu đổi mới phương thức quản lý nhà nước.

Mục tiêu bảo vệ người lao động ở vị trí xuyên suốt trong quá trình sửa đổi Luật
Khắc phục tồn tại, mở ra cơ chế đặc thù
Để khắc phục những hạn chế này, dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là điều cần thiết. Dự án Luật tập trung chuyển đổi từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm", đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và số hóa toàn trình. Những sửa đổi này tháo gỡ điểm nghẽn hành chính, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và mở ra cơ chế đặc thù nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Trần Đức Thuận (Nghệ An), Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại đánh giá, các nội dung sửa đổi lần này đã bám sát yêu cầu thực tiễn, nhất là yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp, tăng cường quản lý nhà nước và bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động.
Song thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng ngày 10/08/2026, ĐBQH Trần Đình Gia (Hà Tĩnh) nêu thực tế, tỉnh là địa phương có số người tham gia đi lao động ở nước ngoài rất đông, khoảng từ 11 - 12 nghìn người tham gia lao động ở nước ngoài. Tuy nhiên, có rất nhiều người Hà Tĩnh đi lao động nước ngoài khi đến nơi và làm được mấy tháng lại chuyển ra ngoài, việc chuyển ra ngoài là vi phạm về luật lao động. Chính vì vậy, có nhiều thị trường lao động nước ngoài không nhận lao động của một số địa phương ở Hà Tĩnh cũng như một số tỉnh của miền Trung. Điều này ảnh hưởng đến lợi ích của rất nhiều lao động chính đáng khác. Bên cạnh đó, theo quy định để làm việc ở một số thị trường, lao động không phải đóng phí và số phí rất thấp nhưng rất nhiều người phải đóng phí rất cao, có thể là 300 - 400 triệu đồng đến tiền tỉ.
Do đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về quản lý người lao động ở nước ngoài, việc chia sẻ thông tin dữ liệu của các cơ quan, các Bộ ngành, cơ quan các địa phương là hết sức quan trọng. Ngoài những cơ quan quy định trong luật, các cơ quan như ngành du lịch, ngành y tế, một số cơ quan khác có dữ liệu này cần phải chia sẻ thông tin, liên thông dữ liệu để khắc phục được những tình trạng nêu trên. Pháp luật cũng phải có một cơ chế, một quy định nghiêm khắc hơn đối với những người vi phạm pháp luật lao động ở nước ngoài... để làm lành mạnh môi trường xuất khẩu lao động ở nước ngoài, ĐBQH Trần Đình Gia khẳng định.

Toàn cảnh phiên thảo luận tại Hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Lấy người lao động làm trung tâm
Bên cạnh đó, ĐBQH Tô Ái Vang (Cần Thơ) kiến nghị xem xét, bổ sung “Quy định nguyên tắc về việc đẩy mạnh thực hiện dịch vụ công trực tuyến toàn trình, cắt giảm và đơn giản hóa thủ tục đăng ký hợp đồng đối với người lao động trực tiếp giao kết hợp đồng lao động. Đồng thời, chuyển mạnh từ “tiền kiểm hồ sơ giấy sang phân loại nguy cơ để đơn giản hóa tiền kiểm trực tuyến, kết hợp tăng cường hậu kiểm, quản lý dữ liệu xuất nhập cảnh liên thông”; giao Chính phủ quy định chi tiết hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký trên môi trường điện tử".
Giải pháp này khắc phục tình trạng "nhũng nhiễu, chậm trễ" thủ tục hành chính: Đưa yêu cầu Dịch vụ công trực tuyến toàn trình (không bắt nộp hồ sơ giấy, tự động hóa xác nhận nếu hợp đồng thuộc mẫu chuẩn) vào Luật sẽ buộc cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương phải xử lý nhanh chóng, hạn chế tối đa việc gây khó dễ cho người dân. Đồng thời tăng tính liên thông dữ liệu. Việc chuyển đổi số giúp liên thông dữ liệu đăng ký hợp đồng giữa Cơ quan Quản lý Lao động - Cơ quan Bộ Ngoại giao (cơ quan đại diện ở nước ngoài) - Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh (Bộ Công an). Khi người lao động đăng ký trực tuyến xong, dữ liệu tự động đồng bộ sang ngành Công an và Ngoại giao để hỗ trợ bảo hộ khi cần thiết, thay vì kiểm tra thủ công bằng giấy tờ tại cửa khẩu, ĐBQH Tô Ái Vang đề xuất.
Liên quan cơ chế bảo vệ người lao động, dự thảo Luật quy định doanh nghiệp và người lao động phải thỏa thuận, ký kết bằng văn bản về trách nhiệm của các bên khi người lao động không được tuyển chọn. ĐBQH Nguyễn Khánh Vũ (Quảng Trị) nhìn nhận, người lao động luôn ở vị thế yếu hơn nhiều so với doanh nghiệp. Họ phải bỏ chi phí, thời gian, nhiều trường hợp phải vay vốn để tham gia, trong khi doanh nghiệp nắm giữ toàn bộ thông tin về khả năng được tuyển chọn.
Do đó, dự thảo luật cần bổ sung nguyên tắc “doanh nghiệp có trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo, bồi dưỡng và các chi phí hợp lý khác đã thu nếu người lao động không được tuyển chọn vì lý do không thuộc về người lao động”. Trình tự, thủ tục hoàn trả giao Chính phủ quy định chi tiết. Ngoài ra, với nhóm người lao động đi theo hợp đồng lao động trực tiếp giao kết - nhóm có rủi ro bị lừa đảo cao nhất, cần quy định ngay trong luật về trách nhiệm của UBND cấp tỉnh khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký phải tư vấn, cảnh báo rủi ro cụ thể cho người lao động thuộc diện tự giao kết hợp đồng.
Cùng nhấn mạnh đến vai trò và trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động, ĐBQH Trần Đức Thuận đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục làm rõ hơn trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người lao động, từ khâu tuyển chọn, đào tạo, đưa đi, quản lý trong thời gian làm việc ở nước ngoài cho đến khi người lao động về nước. không nên chỉ coi trách nhiệm của doanh nghiệp kết thúc ở việc đưa người lao động xuất cảnh. Khi người lao động gặp rủi ro ở nước ngoài thì phải xác định rõ doanh nghiệp phải làm gì, cơ quan nào chủ trì, cơ quan nào phối hợp và thời hạn xử lý như thế nào... Đây là vấn đề cần được quy định đủ rõ để tránh tình trạng khi có vụ việc xảy ra thì trách nhiệm bị phân tán.
Theo ĐBQH Trần Đức Thuận, Dự thảo cũng quy định doanh nghiệp phải thông báo cho UBND cấp xã nơi tổ chức chuẩn bị nguồn và cập nhật thông tin trên hệ thống cơ sở dữ liệu; trường hợp đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ thì chỉ được thu phí sau khi người lao động đã được phía nước ngoài tuyển chọn. Quy định này có ý nghĩa rất quan trọng để ngăn ngừa tình trạng thu tiền của người lao động khi chưa chắc chắn về việc làm.
Song cần nghiên cứu bổ sung nguyên tắc: việc chuẩn bị nguồn phải gắn với nhu cầu thị trường, tiêu chuẩn tuyển chọn và khả năng ký kết hợp đồng thực tế; đồng thời phải công khai các khoản chi phí mà người lao động có thể phải trả; đặc biệt kiểm soát các khoản thu dưới danh nghĩa “đặt cọc”, “giữ chỗ”, “đào tạo nguồn” hoặc các khoản phí tương tự khi chưa có căn cứ chắc chắn về việc người lao động được tuyển chọn, ĐBQH Trần Đức Thuận nêu quan điểm.











