Tăng “sức đề kháng” cho hàng Việt trước rủi ro trung chuyển
Việc Hoa Kỳ xếp Việt Nam vào nhóm Tier 2 về nguy cơ trung chuyển đặt ra yêu cầu cao hơn trong kiểm chứng xuất xứ hàng hóa. Doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động xây dựng hồ sơ đủ sức chứng minh quá trình sản xuất và giá trị thực sự được tạo ra tại Việt Nam.

Việt Nam khẳng định kiên quyết ngăn chặn trung chuyển hàng hóa bất hợp pháp
Trước cáo buộc Việt Nam nằm trong nhóm có “rủi ro” trung chuyển bất hợp pháp, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng ...
Xây dựng “hộ chiếu bằng chứng” cho từng nhóm sản phẩm
Việc Hoa Kỳ xếp Việt Nam vào Tier 2 - nhóm có nguy cơ trung chuyển hàng hóa cho thấy yêu cầu kiểm soát xuất xứ đối với hàng hóa Việt Nam vào thị trường này đang được đặt ra chặt chẽ hơn.
Tuy nhiên, nguy cơ trung chuyển bất hợp pháp không đồng nghĩa với việc mọi sản phẩm sử dụng nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu đều bị nghi ngờ về xuất xứ. Vấn đề cốt lõi là doanh nghiệp phải chứng minh được hàng hóa thực sự trải qua quá trình sản xuất, chuyển đổi và tạo ra giá trị tại Việt Nam.

Dệt may là một trong những ngành hàng được đánh giá chịu nhiều ảnh hưởng từ rủi ro trung chuyển. Ảnh minh họa: tư liệu
Hoa Kỳ phân biệt giữa trung chuyển bất hợp pháp và việc doanh nghiệp Việt Nam sử dụng nguyên liệu, linh kiện Trung Quốc nhưng thực sự sản xuất, tạo giá trị gia tăng tại Việt Nam. Để giảm thiểu rủi ro, Việt Nam cần chứng minh thuyết phục rằng hàng hóa thực sự có xuất xứ Việt Nam.
Trả lời phóng viên, PGS. TS Đinh Công Hoàng - nghiên cứu viên cao cấp cho rằng, C/O là chứng từ rất quan trọng, nhưng nên được xem là trang đầu của hồ sơ xuất xứ, không phải toàn bộ hồ sơ.
Trong nhiều trường hợp, Hải quan Hoa Kỳ xem xét liệu tại Việt Nam có diễn ra “chuyển đổi đáng kể” hay không - nghĩa là quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm mới về tên gọi, đặc tính hoặc công dụng. Cách đánh giá còn tùy mặt hàng và công cụ pháp lý; vì vậy, không có một tỷ lệ giá trị gia tăng duy nhất áp cho mọi ngành.
Theo ông, doanh nghiệp cần chứng minh một câu chuyện sản xuất liền mạch, có thể đối chiếu từ đầu vào đến thành phẩm. Hồ sơ nên có 5 nhóm bằng chứng.
Một là, nguyên liệu và nhà cung cấp: hợp đồng, hóa đơn, tờ khai nhập khẩu, định mức nguyên vật liệu và khả năng truy một thành phẩm về đúng lô đầu vào.
Hai là, quá trình sản xuất: sơ đồ công nghệ, lệnh sản xuất, nhật ký công đoạn, tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm nghiệm, tỷ lệ hao hụt và dữ liệu kho.
Ba là, năng lực thực tế: máy móc, công suất, lao động, ca sản xuất, sản lượng cùng mức tiêu thụ điện, nước phải phù hợp với quy mô xuất khẩu.
Bốn là, giá thành và giá trị tạo ra tại Việt Nam, gồm lao động, khấu hao, năng lượng, dịch vụ trong nước và lợi nhuận.
Năm là, vận chuyển - hậu cần và quyền sở hữu: thời điểm nguyên liệu vào, thời gian lưu kho, chu kỳ sản xuất, ngày xuất hàng, giao dịch với bên liên quan và chủ sở hữu hưởng lợi cuối cùng phải nhất quán.
Điểm mấu chốt không nằm ở số lượng giấy tờ mà ở khả năng kiểm tra chéo. Một C/O đúng về hình thức vẫn khó thuyết phục nếu nhà máy, lao động hoặc thời gian sản xuất không khớp với sản lượng khai báo.
Ngược lại, hồ sơ mạnh là hồ sơ mà chứng từ thương mại, dữ liệu vật chất tại nhà máy và dữ liệu chi phí cùng dẫn đến một kết luận. Toàn bộ thông tin nên được số hóa theo mã lô, có dấu thời gian và có thể truy lại; công nghệ nào được dùng không quan trọng bằng dữ liệu đúng, đủ và có thể kiểm toán.
Với mặt hàng phức tạp hoặc có rủi ro cao, doanh nghiệp nên phối hợp sớm với nhà nhập khẩu Hoa Kỳ và cân nhắc xin phán quyết trước của Hải quan Hoa Kỳ, thay vì chờ hàng bị giữ mới giải trình. Ở cấp ngành, hiệp hội cần xây dựng “hộ chiếu bằng chứng” cho từng nhóm sản phẩm: danh mục dữ liệu tối thiểu, thời hạn lưu trữ, dấu hiệu cảnh báo và mẫu phản hồi khi cơ quan hải quan yêu cầu. Đây là hạ tầng tuân thủ dùng chung, đặc biệt cần thiết đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Dùng dữ liệu và AI để quản lý rủi ro xuất xứ
Hoa Kỳ có xu hướng sử dụng dữ liệu về tuyến vận chuyển, nhà cung cấp, năng lực sản xuất và trí tuệ nhân tạo để phát hiện dấu hiệu bất thường. Câu hỏi đặt ra là hệ thống quản lý xuất xứ và dữ liệu thương mại của Việt Nam cần thay đổi như thế nào? Việt Nam có nên xây dựng hệ thống phân tích rủi ro tương tự?
Theo PGS.TS Đinh Công Hoàng, điều này là cần thiết, nhưng phải xây dựng theo điều kiện của Việt Nam và tuân thủ pháp luật Việt Nam. Quản lý xuất xứ đang chuyển từ kiểm tra giấy tờ sang kiểm chứng mối quan hệ giữa dòng hàng và năng lực sản xuất. Hải quan không thể kiểm tra mọi lô hàng, nên dữ liệu và trí tuệ nhân tạo có thể giúp phát hiện mẫu bất thường, xếp hạng rủi ro và lựa chọn trường hợp cần kiểm tra trước.
Tuy nhiên, thuật toán chỉ tạo ra tín hiệu, không thể tự tạo ra kết luận pháp lý. Xuất khẩu tăng trong khi lao động không tăng có thể do tự động hóa; điện năng giảm có thể do đổi mới công nghệ; thời gian lưu kho ngắn có thể do doanh nghiệp sử dụng tồn kho. Vì thế, mọi cảnh báo phải được cán bộ có thẩm quyền xem xét, doanh nghiệp có quyền giải trình và kết luận vi phạm phải dựa trên hồ sơ, kiểm tra thực tế cùng quy định pháp luật.
Việt Nam đã có nhiều nguồn dữ liệu quan trọng tại cơ quan hải quan, thuế, công thương, đăng ký đầu tư, bảo hiểm xã hội, hóa đơn điện tử, cảng và doanh nghiệp điện lực. Vấn đề là dữ liệu còn phân tán và thường chỉ được nối lại sau khi vụ việc phát sinh.
Ông cho rằng, một nền tảng phân tích rủi ro xuất xứ quốc gia cần 4 cấu phần: dữ liệu dùng chung với mã định danh thống nhất cho doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và lô hàng; công cụ chấm điểm rủi ro theo doanh nghiệp, mã hàng, địa bàn và thời gian; quy trình kiểm tra có con người chịu trách nhiệm và bảo đảm quyền giải trình; cơ chế cảnh báo sớm, phối hợp liên ngành và trao đổi kỹ thuật với đối tác.
Các dấu hiệu có thể gồm: nhập và xuất cùng mã hàng trong thời gian rất ngắn; giá trị vào và ra gần tương đương; xuất khẩu tăng đột biến nhưng máy móc, lao động hoặc công suất không thay đổi; doanh nghiệp mới thành lập đã có kim ngạch rất lớn; hoặc có quan hệ sở hữu, địa chỉ, nhà cung cấp với thực thể từng bị điều tra. Dữ liệu nhạy cảm phải được phân quyền, lưu vết truy cập và bảo vệ bí mật kinh doanh.
Hệ thống này không chỉ để phát hiện vi phạm. Doanh nghiệp có lịch sử minh bạch, dữ liệu đầy đủ và kiểm toán đáng tin cậy có thể được đưa vào luồng ưu tiên, qua đó rút ngắn thời gian và giảm chi phí tuân thủ.
“Thước đo thành công không phải là có bao nhiêu doanh nghiệp bị đưa vào diện cảnh báo, mà là giảm vi phạm thực, xử lý nhanh hơn đối với doanh nghiệp làm đúng và nâng năng lực giải trình của Việt Nam với các đối tác thương mại” - PGS.TS Đinh Công Hoàng chia sẻ.
