Tăng trưởng kinh tế 9 tháng: Kết quả tích cực và vấn đề đặt ra

Năm 2026 tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa quan trọng: là năm đầu của kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Ba phần tư chặng đường của năm đã đi qua, nền kinh tế đạt những kết quả tích cực, song vẫn còn không ít vấn đề cần được giải quyết để hoàn thành các mục tiêu đề ra cho cả năm.

Những kết quả tích cực về tăng trưởng kinh tế trong 9 tháng năm 2026 có thể được nhận diện trên nhiều góc độ khác nhau.

KẾT QUẢ TÍCH CỰC

Ở góc độ thứ nhất, tốc độ tăng trưởng có xu hướng tăng dần qua từng quý trong 9 tháng, đồng thời được dự báo tiếp tục cải thiện trong quý IV và cả năm 2026, như thể hiện tại biểu đồ 1.

Theo đó, tốc độ tăng trưởng quý II cao hơn quý I, quý III cao hơn quý II; tốc độ tăng trưởng 6 tháng cao hơn quý I và 9 tháng cao hơn 6 tháng. Xu hướng tăng trưởng cao dần qua từng quý tạo đà để tốc độ tăng của quý IV tiếp tục cao hơn các quý trước, hướng tới mức tăng hai chữ số, cao nhất từ trước đến nay. Đây cũng là cơ sở để tốc độ tăng trưởng cả năm 2026 cao hơn mức tăng của 9 tháng.

Ở góc độ thứ hai, tốc độ tăng trưởng GDP 9 tháng năm 2026 cao hơn cùng kỳ của nhiều năm trước.

Không chỉ thể hiện ở tốc độ tăng trưởng (số tương đối), kết quả này còn có ý nghĩa về quy mô tuyệt đối, bởi nền kinh tế được so sánh trên một mặt bằng GDP ngày càng cao. Do đó, quy mô GDP 9 tháng năm 2026, tính theo giá so sánh, cao hơn đáng kể so với mức tương ứng của cùng kỳ nhiều năm trước.

Theo đó, mức tăng tuyệt đối của GDP cả năm 2026 dự kiến cũng cao hơn các năm trước, đồng thời quy mô GDP cả năm tiếp tục được nâng lên khi quy đổi sang USD theo tỷ giá trung tâm/tỷ giá hối đoái (bảng 1).

Ở góc độ thứ ba, tốc độ tăng tổng GDP đạt được ở tất cả các nhóm ngành với tốc độ khác nhau (bảng 2).

Theo đó, tốc độ tăng trưởng của nhóm ngành công nghiệp - xây dựng và nhóm ngành dịch vụ cao hơn đáng kể so với nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản. Diễn biến này cho thấy cơ cấu nền kinh tế đang chuyển dịch theo hướng tích cực, phù hợp với định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng giữa các nhóm ngành, cùng với tác động của các chỉ số giảm phát khác nhau, đã dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu nền kinh tế, như thể hiện tại biểu đồ 2.

Theo đó, cơ cấu nền kinh tế đã chuyển dịch lên một tầm cao mới.

(1) Tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có xu hướng giảm khi nền kinh tế cơ bản ổn định, năng lực sản xuất nông nghiệp được nâng lên. Nhiều nông sản, đặc biệt là lương thực, đã đáp ứng tốt nhu cầu trong nước và được xuất khẩu với khối lượng lớn, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới.

(2) Tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng ngày càng lớn, đồng thời đóng góp của khu vực này trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đã ở mức khá cao.

(3) Tỷ trọng khu vực dịch vụ tiếp tục tăng lên, ngày càng giữ vai trò quan trọng hơn trong cơ cấu nền kinh tế.

Ở góc độ thứ tư, quy mô GDP ngày càng lớn, tốc độ tăng dân số chậm lại và tỷ giá VND/USD được kiểm soát tương đối ổn định đã góp phần làm GDP bình quân đầu người, tính theo USD theo tỷ giá hối đoái thực tế cũng như theo sức mua tương đương (PPP), liên tục tăng lên (biểu đồ 3).

Nếu năm 1988, GDP bình quân đầu người của Việt Nam tính theo USD và tỷ giá hối đoái chỉ đạt 86 USD, thuộc nhóm các quốc gia có mức thu nhập thấp nhất thế giới, thì 20 năm sau, năm 2008, con số này đã đạt 1.216 USD, đưa Việt Nam ra khỏi nhóm thu nhập thấp và chuyển lên nhóm thu nhập trung bình thấp. Sau thêm 17 năm, vào năm 2025, Việt Nam tiếp tục ra khỏi nhóm thu nhập trung bình thấp, chuyển lên nhóm thu nhập trung bình cao. Dự báo năm 2026, GDP bình quân đầu người sẽ đạt khoảng 5.592 USD, hoàn thành mục tiêu đề ra. Nếu tính theo sức mua tương đương (PPP), mức GDP bình quân đầu người còn cao hơn.

Đây là sự chuyển dịch có ý nghĩa lớn, nhất là trong bối cảnh dân số trung bình năm 2026 có thể vượt mốc 103,3 triệu người. Kết quả này đạt được nhờ quy mô GDP ngày càng lớn và tiếp tục tăng lên, từ 5,48 tỷ USD năm 1988 lên khoảng 514 tỷ USD năm 2025 và ước đạt 558 tỷ USD vào năm 2026.

Ở góc độ thứ năm, quan hệ giữa GDP sản xuất trong nước và GDP sử dụng trong nước đã có những chuyển dịch quan trọng, thể hiện trên một số phương diện đáng lưu ý.

So sánh giữa GDP sản xuất và GDP sử dụng cho thấy mức chênh lệch như biểu đồ 4. Theo đó, nếu trong giai đoạn 1976-2010, sản xuất trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng, thể hiện qua tình trạng thiếu hụt, thì từ năm 2011 đến năm 2025, GDP sản xuất đã vượt GDP sử dụng, đạt trên 100%. Sự chuyển dịch từ trạng thái “thiếu hụt” sang “vượt” là một bước chuyển quan trọng về vị thế của nền kinh tế, đồng thời là tín hiệu đáng khích lệ.

Ở góc độ thứ sáu, cùng với sự gia tăng về tốc độ, chất lượng tăng trưởng kinh tế cũng đã có những cải thiện bước đầu.

Cơ cấu đóng góp của các yếu tố vào tăng trưởng cho thấy vai trò của vốn đầu tư phát triển, số lượng lao động đang làm việc và năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đều có những chuyển biến tích cực.

Theo đó, tỷ trọng đóng góp của tăng vốn giảm từ mức cao nhất xuống thứ 2, còn của TFP tăng từ thứ 2 lên thứ nhất.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA

Trước hết là tốc độ tăng GDP. Mục tiêu đặt ra cho cả năm 2026 là GDP tăng từ 10% trở lên, mức cao nhất so với tốc độ tăng của các năm trước đến năm 2025. Với mức tăng 9 tháng đạt 9,01%, để cả năm đạt 10%, GDP quý IV phải tăng tới 12,97%. Đây là mức tăng rất cao; nếu không có những giải pháp đủ mạnh, quyết liệt và được triển khai nhanh chóng, mục tiêu đề ra sẽ khó đạt được.

Theo dự báo của người viết, GDP quý IV có thể tăng khoảng 10,5%, đưa tốc độ tăng trưởng cả năm lên khoảng 9,4%. Mặc dù chưa đạt mục tiêu 10%, đây vẫn là mức tăng cao so với nhiều năm trước.

Một yếu tố quan trọng khác là tích lũy tài sản, bởi đây là tiền đề của đầu tư phát triển, trong khi vốn đầu tư phát triển là yếu tố vật chất trực tiếp tạo nên tăng trưởng GDP. Tuy nhiên, tích lũy tài sản hiện vẫn gặp hạn chế trên hai phương diện: nguồn tích lũy và hiệu quả đầu tư.

Về nguồn tích lũy, cũng tồn tại hai hạn chế đáng lưu ý. Trong sản xuất nông nghiệp, tại nhiều vùng, với nhiều loại cây trồng, vật nuôi, tình trạng “lấy công làm lãi” vẫn còn phổ biến. Sản xuất có thể rơi vào vòng lặp “năm được mùa, năm mất giá”, có năm phải chặt bỏ, có những năm thắng lớn, nhưng cũng có năm chịu tác động nặng nề của thiên tai, dịch bệnh hoặc sự cạnh tranh từ hàng nhập khẩu với giá thấp.

Ngay cả khu vực doanh nghiệp, tỷ suất lợi nhuận trước thuế qua các năm nhìn chung vẫn còn thấp. Chỉ số có sự biến động đáng kể trong giai đoạn 2010-2024. Từ mức cao 4,53 năm 2010, chỉ số giảm dần xuống 3,63 năm 2015 và 3,38 năm 2019. Sau đó, chỉ số phục hồi mạnh, đạt 4,20 năm 2021 và 4,06 năm 2022. Tuy nhiên, đến năm 2023, chỉ số giảm xuống 3,20, mức thấp nhất trong giai đoạn. Năm 2024, chỉ số phục hồi rõ rệt lên 3,86, tăng khoảng 20,6% so với năm 2023, cho thấy xu hướng cải thiện trở lại sau một năm sụt giảm mạnh.

Ở các loại hình doanh nghiệp như doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần không có vốn nhà nước, tỷ suất lợi nhuận còn thấp hơn; thậm chí, khu vực doanh nghiệp tư nhân trong một số năm còn ghi nhận tình trạng thua lỗ.

Bên cạnh đó, một lượng vốn không nhỏ trong thời gian qua vẫn được “chôn” vào các kênh như tiền ảo, vàng, bất động sản... thay vì được đưa vào sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển.

Tỷ lệ vốn đầu tư phát triển so với GDP trong 9 tháng qua chỉ đạt gần 30,1%. Ước tính cả năm, tỷ lệ này có thể cao hơn, nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với nhiều năm trước, khi thường ở mức 32-35%.

Hiệu quả đầu tư được phản ánh qua hệ số ICOR, tức để tạo thêm 1 đồng GDP theo giá so sánh cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư phát triển theo giá so sánh. Hệ số này trong thời gian qua vẫn ở mức khá cao. Trong 10 năm gần đây, chỉ có 2 năm ICOR dưới 5 lần, trong khi 8 năm ở mức trên 5 lần. Đáng chú ý, năm 2020 hệ số này lên tới 14,27 lần và năm 2021 là 15,81 lần, cao hơn nhiều so với mức khoảng 3 lần của các nền kinh tế phát triển.

Một yếu tố có tầm quan trọng hàng đầu là năng suất lao động. Mặc dù năng suất lao động có tốc độ tăng khá, mức năng suất tính bằng USD đến năm 2025 vẫn chưa đạt 10.000 USD/người. Theo dự báo của người viết, năm 2026, năng suất lao động có thể đạt khoảng 10.885 USD/người.

Chất lượng nguồn nhân lực cũng là vấn đề cần được quan tâm. Tỷ lệ lao động qua đào tạo mới đạt khoảng một phần ba tổng số lao động, trong khi tại một số khu vực và ngành nghề, tỷ lệ này còn thấp hơn...

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 41-2026 phát hành ngày 12/10/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây: 

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-41-2026.html

TS. Đỗ Văn Huân

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/tang-truong-kinh-te-9-thang-ket-qua-tich-cuc-va-van-de-dat-ra.htm