Tăng trưởng xanh tại An Giang: Làm sao để không 'đánh đổi' tài nguyên?
An Giang đang thúc đẩy năng lượng và công nghiệp chế biến trở thành động lực tăng trưởng mới, với yêu cầu tháo gỡ điểm nghẽn đầu tư nhưng không đánh đổi tài nguyên, môi trường lấy tăng trưởng.
Không chỉ lắng nghe kiến nghị, An Giang chọn cách 'giải quyết đến cùng' các điểm nghẽn hạ tầng và thủ tục nhằm đưa công nghiệp chế biến - năng lượng trở thành động lực bứt phá nhưng quyết không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng.
Từ đối thoại với doanh nghiệp đến yêu cầu tháo gỡ điểm nghẽn thực chất
Sáng 13/8, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh An Giang Nguyễn Thanh Phong chủ trì hội nghị gặp gỡ 38 doanh nghiệp, nhà đầu tư trong lĩnh vực năng lượng và công nghiệp chế biến trên địa bàn tỉnh.
Điểm đáng chú ý của cuộc gặp không nằm ở số lượng doanh nghiệp tham dự, mà ở cách An Giang đặt vấn đề: kiến nghị của doanh nghiệp phải được xử lý thực chất và phải có kết quả.

Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh An Giang Nguyễn Thanh Phong phát biểu hội nghị. (Ảnh: Cổng TTĐT An Giang)
Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Thanh Phong yêu cầu các sở, ngành, địa phương tập trung xử lý các kiến nghị; vấn đề thuộc thẩm quyền phải được giải quyết nhanh, đúng quy định, không để doanh nghiệp phải đi lại nhiều nơi hoặc nhiều lần bổ sung cùng một nội dung. Đối với những vấn đề liên quan nhiều cơ quan, phải xác định rõ một đầu mối chủ trì; đồng thời theo dõi tiến độ, kịp thời báo cáo những nội dung chậm xử lý hoặc vượt thẩm quyền.
Đây là yêu cầu có ý nghĩa không chỉ đối với cải cách hành chính mà còn với năng lực cạnh tranh của môi trường đầu tư.
Bởi với doanh nghiệp, một dự án chậm không chỉ vì thiếu vốn hay công nghệ. Dự án có thể bị kéo dài bởi một thủ tục đất đai, một bước điều chỉnh đầu tư, một vấn đề về quy hoạch, nguồn nguyên liệu, hạ tầng điện hoặc logistics.
Khi những điểm nghẽn đó xuất hiện đồng thời, chi phí cơ hội sẽ tăng lên và khả năng cạnh tranh của cả chuỗi sản xuất bị ảnh hưởng.
Trong bối cảnh An Giang đang đặt mục tiêu tăng trưởng cao, việc chuyển cách tiếp cận từ “tiếp nhận kiến nghị” sang “giải quyết đến cùng” vì thế trở thành yêu cầu của quản trị phát triển.
Sáu tháng đầu năm 2026, GRDP An Giang tăng 8,83% so với cùng kỳ; riêng quý II tăng 10,30%. Tỉnh đặt mục tiêu tăng trưởng cả năm từ 10,71% trở lên, trong đó công nghiệp chế biến, xây dựng, dịch vụ, logistics và kinh tế biển được xác định là những động lực quan trọng.
Con số tăng trưởng cho thấy nền kinh tế đang có đà, nhưng cũng đặt ra áp lực phải tạo thêm năng lực sản xuất thực chất. Muốn tăng trưởng cao trong những năm tới, An Giang không thể chỉ dựa vào mở rộng quy mô mà phải nâng năng suất, hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng.
Năng lượng phải đi trước một bước, công nghiệp chế biến phải đi sâu vào giá trị
Năng lượng là một trong những nền tảng để An Giang mở rộng không gian công nghiệp.
Theo số liệu được tỉnh công bố, năm 2025 sản lượng điện năng tiêu thụ trên địa bàn đạt 6.220 triệu kWh, tăng 1,24% so với năm 2024. Trong đó, điện thương phẩm công nghiệp - xây dựng chiếm 34,6%, tăng 4,83%; khu vực kinh doanh dịch vụ chiếm gần 10,6%, tăng 6%. Hai tháng đầu năm 2026, sản lượng điện tiêu thụ đạt 986 triệu kWh, tăng 8,33%; điện thương phẩm công nghiệp - xây dựng tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn. Dự báo cả năm 2026, điện thương phẩm của tỉnh đạt khoảng 6.700 triệu kWh.

Đại biểu tham dự hội nghị. (Ảnh: Cổng TTĐT An Giang)
Những con số này phản ánh một thực tế: khi sản xuất và dịch vụ tăng tốc, nhu cầu năng lượng sẽ tăng theo; nếu hạ tầng năng lượng không đi trước, nó có thể trở thành điểm nghẽn của tăng trưởng.
Hiện An Giang được cung cấp điện từ hệ thống điện quốc gia qua 4 trạm 220kV với tổng công suất đặt 2.000MVA; ngoài ra có 3 nhà máy điện mặt trời với tổng công suất 310MWp phát lên lưới 110kV. Năm 2026, Tổng Công ty Điện lực miền Nam cân đối khoảng 2.128 tỷ đồng đầu tư các dự án lưới điện trên địa bàn tỉnh, trong đó có 877 tỷ đồng cho công trình Trạm biến áp 220kV Phú Quốc.
Nhưng bài toán năng lượng không chỉ là “có đủ điện”.
Trong xu thế chuyển dịch xanh, năng lượng cho sản xuất còn phải hướng đến ổn định, hiệu quả và giảm phát thải. Đây sẽ là một trong những điều kiện ngày càng quan trọng khi doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, nơi các yêu cầu về dấu chân carbon, sử dụng năng lượng và tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe.
Vì vậy, thu hút đầu tư năng lượng cần song hành với yêu cầu về hiệu quả sử dụng đất, công nghệ, môi trường và khả năng kết nối với nhu cầu thực tế của nền kinh tế.
Đối với công nghiệp chế biến, vấn đề còn sâu hơn. An Giang có lợi thế rất lớn về nông nghiệp và nguồn nguyên liệu, nhưng lợi thế nguyên liệu chỉ thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh khi được chuyển hóa thành sản phẩm chế biến có giá trị cao.
Doanh nghiệp tại hội nghị kiến nghị tỉnh hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu lúa gạo tập trung, truy xuất nguồn gốc, kho bảo quản và hạ tầng logistics. Đây chính là những mắt xích quyết định khả năng nâng cấp chuỗi giá trị nông sản.
Nếu vẫn chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu hoặc sản phẩm sơ chế, giá trị giữ lại tại địa phương sẽ hạn chế. Ngược lại, khi vùng nguyên liệu được tổ chức tốt, dữ liệu được quản lý, công nghệ chế biến được nâng lên và logistics được tối ưu, mỗi đơn vị nguyên liệu có thể tạo ra giá trị kinh tế lớn hơn.
Đó cũng chính là điểm giao giữa kinh tế nông nghiệp, công nghiệp chế biến và kinh tế môi trường.
Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng, phải biến tài nguyên thành giá trị
Một nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng tiêu hao nhiều tài nguyên, phát sinh chất thải lớn và phụ thuộc vào công nghệ thấp sẽ khó duy trì sức cạnh tranh trong dài hạn.
Vì vậy, với An Giang, bài toán đặt ra không phải lựa chọn giữa tăng trưởng và môi trường, mà là tổ chức lại mô hình tăng trưởng để hai mục tiêu này hỗ trợ lẫn nhau.
Năm 2025, kinh tế An Giang tăng trưởng 8,39%, đứng đầu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long; trong đó khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 12,88%, riêng công nghiệp tăng 11,97%. Xu hướng này cho thấy vai trò ngày càng lớn của công nghiệp trong cơ cấu kinh tế tỉnh.

Quang cảnh hội nghị. (Ảnh: Cổng TTĐT An Giang)
Khi công nghiệp tăng nhanh, yêu cầu kiểm soát môi trường cũng phải tăng tương ứng.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với các lĩnh vực sử dụng nhiều năng lượng, tài nguyên và nguyên liệu. Mỗi dự án mới cần được nhìn không chỉ qua tổng vốn đầu tư hay số lao động tạo ra, mà còn qua hiệu quả sử dụng đất, nước, năng lượng; khả năng tái sử dụng phụ phẩm; mức phát sinh chất thải; công nghệ xử lý và đóng góp thực tế cho chuỗi giá trị địa phương.
Tại cuộc gặp doanh nghiệp, các vấn đề liên quan đến vật liệu nạo vét, khoáng sản và hoàn thổ mỏ cũng được đặt ra. Đây là những vấn đề cho thấy dư địa phát triển kinh tế tuần hoàn còn rất lớn nếu được quản lý bằng công nghệ, dữ liệu và quy chuẩn phù hợp.
Thay vì coi chất thải của một quá trình sản xuất là điểm kết thúc, tư duy mới cần tìm cách biến phụ phẩm, vật liệu có khả năng tái sử dụng thành đầu vào của một quá trình khác.
Đó là cách giảm chi phí xử lý, tiết kiệm tài nguyên và đồng thời mở thêm một thị trường mới.
Từ góc độ này, yêu cầu “đồng hành cùng doanh nghiệp” mà lãnh đạo An Giang đặt ra cần được hiểu rộng hơn việc tháo gỡ thủ tục.
Đó là việc chính quyền cùng doanh nghiệp giải quyết những vấn đề có tính nền tảng: hạ tầng điện, đất đai, logistics, vùng nguyên liệu, công nghệ, dữ liệu và môi trường.
Mục tiêu cuối cùng không phải có thêm thật nhiều dự án, mà là có những dự án tạo ra giá trị thật, đóng góp thật và phát triển lâu dài.
Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Thanh Phong nhấn mạnh tinh thần xử lý kiến nghị phải nhanh, đúng quy định, rõ trách nhiệm và có kết quả.
Đó cũng có thể xem là yêu cầu đối với cả quá trình phát triển công nghiệp của An Giang: không để nguồn lực nằm chờ, không để thủ tục trở thành điểm nghẽn, không để tăng trưởng phải trả giá bằng lãng phí tài nguyên và môi trường.
Trong năm 2026, tỉnh đã phân bổ gần 28.700 tỷ đồng kế hoạch vốn đầu tư công; đến ngày 30/6 giải ngân hơn 8.600 tỷ đồng, đạt 32,54% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao. Riêng các dự án phục vụ APEC 2027 đã giải ngân hơn 5.300 tỷ đồng, đạt 38,63% kế hoạch.
Quy mô nguồn lực này, cộng với dòng vốn tư nhân đang được thúc đẩy, tạo ra cơ hội lớn để An Giang nâng cấp hạ tầng và năng lực sản xuất. Nhưng cơ hội chỉ trở thành động lực phát triển khi nguồn lực được phân bổ đúng chỗ, dự án được triển khai đúng tiến độ và hiệu quả môi trường - kinh tế được đặt trong cùng một bài toán.
Cuộc gặp 38 doanh nghiệp vì thế không nên chỉ được nhìn như một hoạt động đối thoại. Giá trị lớn hơn nằm ở thông điệp quản trị: doanh nghiệp cần một chính quyền kiến tạo, còn địa phương cần những doanh nghiệp tạo ra giá trị gia tăng, đổi mới công nghệ và cùng chia sẻ trách nhiệm với môi trường.
Đó là nền tảng để An Giang chuyển từ lợi thế về tài nguyên và nguyên liệu sang lợi thế về công nghệ, năng suất, chuỗi giá trị và tăng trưởng xanh.












